GIỚI THIỆU SÁCH

  • Hành lý hư vô Nguyễn Ngọc Tư "Cả khi xe chuyển bánh rồi bạn vẫn còn kinh ngạc, thì ra chỉ cần chừng này thứ mang theo. Ngoài chục bộ quần áo, mùng mền, đôi gối, vài cái khăn choàng cổ. Mà cũng không chắc chúng cần thiết với mình.Có quá nhiều thứ để nhìn nhận lại trước và trong những cuộc chia tay, như cái chị khóc mếu kia chưa chắc sẽ nhớ về bạn nhiều hơn người vẻ như tỉnh bơ cà rỡn (nuốt trộng nỗi buồn vào lòng vốn là chuyện chẳng dễ gì), hay đằng sau câu "sẽ gọi điện thường xuyên" là một rừng lừa phỉnh bởi mai đây hít thở thứ không khí khác, sẽ chẳng còn gì chung để chia sẻ cho nhau. Và xứ sở bạn tưởng như đậm đặc trong từng tế bào máu, không sống nổi nếu thiếu vắng, ngay khi rời đi đã có nơi chốn mới thay vào.Hiểu cách những mối quan hệ biến dạng sau mỗi cuộc chuyển dời, nhất là giữa người với người, nhưng sau vài lần chuyển nhà, đồ đạc mới là thứ khiến bạn ngạc nhiên. Những thứ bạn phục thuộc vào, như thể chúng là tai, là mắt, là oxy, hóa ra buông bỏ được. Và có thể buông nhẹ không. Ảnh: Internet ... Sáng đó trời mưa, người đưa tiễn không đông lắm. Bạn ngó coi mấy chiếc xe chạy sau mình có chất đầy những hư vô, thứ hành lý duy nhất bạn có thể mang theo, thứ khiến bạn cảm thấy cần thiết hơn cả những áo khăn được gói chặt bên mình, cả lúc mục rã đi còn chưa xài tới". Hành lý hư vô - tập tản văn mới nhất với 32 mẩu chuyện được kể bằng chất giọng rất đặc trưng Nguyễn Ngọc Tư: bình dị, mộc mạc và hiền. Đọc để cảm nhận nỗi buồn man mác len lỏi trong từng con chữ. Dai dẳng và ám ảnh!
    ...
  • Cánh đồng bất tận (In lần... Nguyễn Ngọc Tư 14 câu chuyện ngắn, mỗi một câu chuyện vừa đủ thời gian cho một bạn trẻ đọc lướt trong khi chờ đợi, trong khi nhấm nháp một tách cafe. Hoặc đơn giản là những lời ru nhẹ nhàng cho giấc ngủ ngày cuối tuần. Hoặc với những tâm hồn sâu sắc, thì món quà tinh thần này sẽ không thể hoàn hảo hơn cho một người hướng nội. Giọng văn của tác giả mang bản sắc của vùng Miền Tây sông nước rõ ràng. Và lẽ dĩ nhiên trong rất nhiều lần của những câu chuyện, miền cù lao chàm, miền sông nước, đảo vắng, vùng biển mênh mông, với những con người sáng tối lấm lem, hay những mảnh đời xa xôi bất hạnh...hiện lên đầy chân thực trong từng câu văn. Những người miền quê ấy, chắc hẳn phải tự hào lắm, khi những địa danh thân thuộc với họ hiện lên trên trang sách, và sau này là trong những thước phim trên màn ảnh. Cần lắm nhiều nhà văn của người Việt với thêm những tác phẩm đậm chất quê hương như ngòi bút này.Và sẽ thật thiếu sót, nếu không giới thiệu qua về Cánh đồng bất tận, tựa như không nhắc đến Tiếng gọi nơi hoang dã trong tuyển tập truyện ngắn của Jack London vậy. Đây là câu chuyện làm nên tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư kể về số phận của 4 con người ở một cánh đồng vô danh cho một miền quê xa lạ. Đó là một người đàn bà với số phận làm đĩ, bị người ta vây quanh đánh đập, đánh ghen, giật áo xé váy, thậm chí là đổ cả keo dán sắt vào cửa mình của chị, trôi dạt vào một gia đình ghe nước. Người vô tình cứu chị là hai chị em Điền, với những nỗi buồn mà người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Một người cha với quá khứ đáng quên đã không thể sống bình thường trong hiện tại, cay nghiệt đẩy nỗi buồn sang 2 người con. Để rồi chúng không thể lớn lên một cách bình thường. "Tôi đành để cha đánh để ông bớt đau lòng. Sau nầy chị em tôi không day dứt chi cho mệt, vì hiểu thấu ra, mình bị đòn chỉ vì là con của má, vậy thôi." "Có lẽ vì cuộc sống của họ ngày càng xa lạ với chúng tôi. Họ có nhà để về, chúng tôi thì không. Họ sống giữa xóm chài đông đúc, còn chúng tôi thì không. Họ mơ những giấc mơ đẹp. Còn chúng tôi thì không. Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao." "Hóa ra chúng tôi không giao tiếp với nhau bằng lời nói nữa". Thằng Điền cười, "Ủa tụi mình hổng nói tiếng người". Người đàn bà làm đĩ đã phải lòng người cha. Và dĩ nhiên ông ta khinh thường, rẻ rúng. Còn Điền lại yêu chị, yêu một tình yêu không thể hiểu nổi. Với 2 đứa trẻ, người chị của Điền và cả Điền nữa, nỗi buồn từ lâu đã làm chai sạn họ, biến họ trở thành những đứa trẻ tự kỷ điển hình. Giao tiếp bằng cảm giác, không còn bằng lời nói. Có nỗi đau nào buồn hơn thế. Câu chuyện kết thúc với việc người chị làm đĩ bỏ đi. Thằng Điền dáo dác đi tìm, và cũng một đi không trở lại nữa. Ông bố đã bắt đầu biết quan tâm hơn tới người chị của Điền. Nhưng rồi chị Điền bị "những đứa trẻ tên Hận, tên Thù, mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi" cưỡng hiếp.... Gập lại cuốn sách, một khoảng buồn hiện ra. Nhưng cũng giống như những tác phẩm buồn kinh điển khác của mình, Nguyễn Ngọc Tư luôn để lại cho họ một lối thoát. Nói đúng ra, đó là một cái kết mở! "Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ, hay Dịu, Xuyến, Hường...Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn."  Trích bài review của độc giả Hoàng Lão Hạc  Cánh đồng bất tận bao gồm 14 truyện ngắn, là những truyện hay của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Đây là tác phẩm đang gây xôn xao trong đời sống văn học, bởi ở đó người ta tìm thấy sự dữ dội, khốc liệt của đời sống thôn dã qua cái nhìn của một cô gái. Bi kịch về nỗi mất mát, sự cô đơn được đẩy lên đến tận cùng, khiến người đọc có lúc cảm thấy nhói tim... Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
    ...
  • Nói về miền Nam - Cá... Sơn Nam Cả 3 tập sách trên của nhà văn Sơn Nam đều đã được xuất bản từ những năm 60 - 70. Ở lần xuất bản này, cũng không có gì khác hơn ngoài việc tập hợp và giới thiệu cả ba tập sách trên trong cùng một ấn phẩm nhằm giới thiệu với bạn đọc những nét riêng của Nam Bộ trong ngôi nhà chung Việt Nam; trong những sinh hoạt lễ đám hội hè, các thủ tục của quan, hôn, tang, tế, lễ cùng những dẫn chứng thú vị về nguồn gốc hình thành và phát triển của nó.
    ...
  • Ngọn đèn không tắt (Tái bản... Nguyễn Ngọc Tư Ngọn đèn không tắt là tác phẩm đầu tay đã ghi lại dấu ấn thành công của Nguyễn Ngọc Tư. Mở đầu truyện "Kính gửi ông Hai Tương", thế hệ ông đã xả thân để bảo vệ Xóm Mũi, Xứ Hòn, chiến tranh kẻ mất người còn. Trong dòng hoài niệm của Tươi, lúc ông nội còn sống, Tươi luôn được đi cùng nội mỗi lần tỉnh mời nói chuyện khởi nghĩa. Tươi đại diện cho thế hệ trẻ và cũng thay nội kể tiếp trang sử hào hùng ở xứ Hòn. Bên cạnh niềm tự hào chiến thắng trộn lẫn nước mắt và máu của các bác, các chú, thế nhưng trong trái tim chị đó mãi mãi "Ngọn đèn không tắt". Ngọn đèn ấy thắp sáng bằng ý chí của triệu triệu trái tim, thế hệ trẻ hôm nay được nuôi dưỡng bằng niềm tin, nhìn vào quá khứ, sống ở hiện tại hướng đến tương lai. Luôn trân trọng kính yêu những người đã ngã xuống vì mảnh đất thân yêu, tổ quốc Việt Nam đời đời ghi nhớ công ơn các chú, các anh... Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng phương ngữ tối đa và đúng chỗ vào những câu chuyện thật "miền Nam". Đó là miền Nam của tỉnh lẻ, của ruộng vườn, và nhất là của sông, của mưa; đã thái bình nhưng vẫn còn dấu chiến tranh - không ở sự điêu tàn vì bom đạn mà ở những vết thương trong đời người.
    ...
  • Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (In... Nguyễn Ngọc Tư Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư khiến cho người ta thấy rằng nhà văn trẻ có thể biến mọi đề tài "tầm thường" trở thành thời sự. Ẩn sau "giọng nói" trong trẻo, duyên dáng của một cô gái là sự trải nghiệm về thời cuộc, đời sống dân dã và chiều sâu văn hoá của vùng đất cực Nam Tổ quốc... Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
    ...
  • Gió lẻ và 9 câu chuyện... Nguyễn Ngọc Tư Tiếp theo Ngọn đèn không tắt, Giao Thừa, Cánh đồng bất tận, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác vẫn là những câu chuyện về những thân phận con người với cái nhìn đau đáu xót xa dưới ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư. "... Gió lẻ làm gã phải quan tâm nhiều tới chỗ ngủ. Bây giờ không thể bạ đâu nằm đó, trên sạp hàng hay sàn xe. Không thể ngủ trong cơn đùa nghịch dẳng dai của những cơn gió bị xé nhỏ bởi một bàn tay vô hình.Và từ khi lìa nhau, gió dằn vặt con người bởi nỗi ly tan của chính nó. Những cơn buốt lạnh chợt tới, chợt đi, thảng thốt. Đắp một tấm mền cũng là một cuộc tranh đấu nhỏ, bởi không biết cũng bao giờ gió sẽ tới, trong thời gian đó, người ướt đẫm mồ hôi. Sự đùa cợt không bao giờ mệt mỏi. Đến mức người ta mòn mỏi thiếp đi thì gió lại dựng họ dậy theo cái kiểu lướt thật chậm từ chân lên đầu, như có một linh hồn, một bóng ma vừa đi qua âu yếm. Để trốn gió, gã nhận chở bất cứ loại hàng nào, với cái giá rẻ nhất đi tới những người đàn bà của mình ở những điểm đến quen thuộc. Bằng cách đó, từng mùa gió lẻ đã đi qua đời gã êm đềm. "Khỏi tốn tiền trọ...", Dự cười hinh hích, cậu ta nghĩ vậy. Dự xa xôi với gã bởi những điều như thế. Dự trẻ, và ngơ ngác giữa cuộc đời ngơ ngác. Nên dù nằm trong căn phòng ấm sực, cậu ta vẫn trằn trọc không chịu vô nhà...". Sáng sau gặp lại, không biết cô gái có bị gió làm xanh đi chút nữa. Hai chân có thể sẽ không duỗi thẳng ra được, vì gió vào cabin và cô gái bị đông cứng, còng queo... MỤC LỤC Vết chim trời Chuồn chuồn đạp nước Tình thầm Sầu trên đỉnh Puvan Ấu thơ tươi đẹp Núi lở Thổ Sầu Của ngày đã mất Một chuyện hẹn hò Gió lẻ ĐOẠN TRÍCH Em cười hinh hích, kéo tay tôi ngồi xuống cạnh mình, nói "thầy ơi thầy mỏi chân đi". Sau câu nói ấy thì tôi thấy mình bỗng mỏi thật, vì chỉ cần đi chút nữa, gặp người đời, tôi sẽ thấy lại tuổi sáu mươi chín của mình trong mắt họ. Sẽ phải nghe câu nói hồn nhiên của một người hồn nhiên, "Ông anh có con gái ngộ quá, phải ở gần tui hỏi cưới cho thằng út tui, mình làm sui gia chơi". Và em bỏ chén cơm ăn dở xuống, rối bời nắm lấy tay tôi, "không phải đâu, chú ơi, không phải...". Cái khoảnh khắc rối bời này sẽ lặp đi lặp lại, chừng nào em còn ở bên tôi. Trích từ sách
    ...
  • Cần Thơ phố cũ nét xưa Nhâm Hùng, Thư viện Thành phố Cần... Cần Thơ phố cũ nét xưa là tập biên khảo về vùng đất "gạo trắng nước trong" xứ Tây Đô xưa của soạn giả Nhâm Hùng liên kết với Thư viện Thành phố Cần Thơ. Tập sách gồm 2 phần: "Cội nguồn và khai mở"; "Nhận diện đô thị buổi đầu". "Bằng cứ liệu phong phú đã cất công sưu tầm gần trọn đời người, tác giả Nhâm Hùng kể cho độc giả nghe thuở ban đầu của đạo Trấn Giang, rồi địa danh Tham Tướng, việc chuyển đổi hai tiếng Cần Thơ từ địa danh dân gian sang địa danh hành chính... Một trong những tiểu mục đáng chú ý trong sách có lẽ là "Miệt vườn Cần Thơ hình thành ra sao". Tác giả có lý khi lý giải rằng, miệt vườn Cần Thơ được mở mang, mà cái nôi ở dọc theo tuyến Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền, Long Tuyền, Bình Thủy. Để rồi nhiều tên rạch lấy từ các loại trái cây như Rạch Cam, Rạch Chanh, Mương Dâu... ra đời, tồn tại tới hôm nay, như lưu dấu miệt vườn xưa... Trong phần "Chợ nổi Cái Răng hình thành", tác giả sau khi khái quát về lịch sử hình thành, nét đặc trưng như cây bẹo, tiếng rao đi sâu bàn về "giá trị thương hồ". Đó cũng là giá trị văn hóa tiềm ẩn đã được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Thú vị làm sao trên chợ nổi có đến hàng chục đơn vị tính: ký, chục, trăm, thiên, giạ, táu, đôi, thước... nhưng thú vị nhất vẫn là cách bán mớ, bán mão... Cần Thơ phố cũ nét xưa còn có nhiều trang viết về công trình kiến trúc cổ trên đất Tây Đô, về lịch sử đáng nhớ của bến Ninh Kiều, tiền thân là bến Hàng Dương. Tác giả cũng làm sống dậy không gian và không khí bến xe đò ở Cần Thơ xưa đi Lục tỉnh, minh chứng về vị trí trung tâm của mảnh đất này..." Đi tìm "phố cũ nét xưa" - Đăng Huỳnh Như tác giả đã nói "khảo cứu lịch sử thành phố Cần Thơ hôm nay, chính là tìm về cội nguồn đất Trấn Giang xưa, tức xứ sở Cần Thơ để mở đầu cho cuộc hành trình khơi dậy kho tàng quá khứ..." vì lẽ thường ai cũng có nhu cầu hiểu biết về nơi "chôn nhau cắt rốn", quê hương bản quán của mình, người ở nơi khác tới hay du khách một lần "cỡi ngựa xem hoa" cũng thích tìm hiểu đôi điều tại điểm đến mà họ vừa dừng chân. MỤC LỤCLời nói đầuPhần 1: Cội nguồn và khai mở Tìm về đất Trấn Giang xưa Đô thị sơ khai dưới triều Nguyễn Miệt vườn Cần Thơ hình thành ra sao? Kể chuyện cồn nổi Vẻ đẹp kiến trúc cổ Chợ nổi Cái Răng hình thành Phần 2: Nhận diện đô thị buổi đầu Đô thị Cần Thơ 100 năm trước Cần Thơ trong sách Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (1909) Bến Ninh Kiều thuở ấy Văn minh tàu bè, xe cộ Bắc (phà) Cần Thơ sứ mạng trăm năm Vang tiếng văn chương, kịch nghệ Thông tin đại chúng đi đầu miền Tây Lý thú địa danh dân gian ở Cần Thơ Bàn về Tây Đô Thương hoài phố cũ, nét xưa Sách tài liệu tham khảo
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 03 cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện về tỉnh Gia Định vào thời điểm năm 1902. Những thông tin trong sách cũng vô cùng quý giá, có thể giúp các nhà nghiên cứu, những người quan tâm về lịch sử tìm hiểu về Nam kỳ đầu thế kỷ XX.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 06 là công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và chi tiết về mọi mặt của vùng đất Châu Đốc xưa để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại vùng đất Tây Nam bộ có nhiều tiềm năng kinh tế.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 07 là công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và chi tiết về mọi mặt của vùng đất Bến Tre xưa để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại vùng đất Tây Nam bộ có nhiều tiềm năng kinh tế.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 12 cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện về tỉnh Long Xuyên vào thời điểm năm 1905. Những thông tin trong sách cũng vô cùng quý giá, có thể giúp các nhà nghiên cứu, những người quan tâm về lịch sử tìm hiểu về Nam kỳ đầu thế kỷ XX.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 08, là công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và chi tiết về mọi mặt của vùng đất Sa Đéc xưa (nay là tỉnh Đồng Tháp) vào thời điểm năm 1903 để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại vùng đất Tây Nam bộ có nhiều tiềm năng kinh tế.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 14 cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện về tỉnh Vĩnh Long vào thời điểm năm 1911. Những thông tin trong sách cũng vô cùng quý giá, có thể giúp các nhà nghiên cứu, những người quan tâm về lịch sử tìm hiểu về Nam kỳ đầu thế kỷ XX.
    ...
  • Không ai qua sông Nguyễn Ngọc Tư Một xóm Nhơn Thành hư hư thực thực... người chết và người sống, bằng cách nào đó, sẽ song hành cùng nhau. Một xã hội thu nhỏ, với lòng tham, thù hận và sức phản kháng... Tất cả được kể bằng giọng điệu thản nhiên và bông lơn. Sự dữ dội của câu chuyện cứ tăng dần cho đến lúc người đọc khép sách lại. Không ai qua sông - Tập truyện ngắn mới nhất của Nguyễn Ngọc Tư gợi bạn đọc nhớ đến truyện dài Cánh đồng bất tận đã từng gây xôn xao trên văn đàn một thời gian dài. Cũng lấy cảm hứng từ cuộc sống của người dân nông thôn miền Tây, nhưng giờ đây nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư có cái trăn trở của một vùng đất đã dần bị đô thị hóa, con người phải thích ứng với những thứ nhân danh cuộc sống hiện đại nhưng có thể phá nát những rường mối gia đình. MỤC LỤC Vực không đáy Không ai qua sông Nút áo Nhổ quán Chỉ gió trả lời câu hỏi Thầm Đi thật xa mới đến nhà bạn cũ Tiều tụy vòng quanh Mưa mây Dây diều Giữa mùa chán chết Lời yêu Đất
    ...
  • Yêu người ngóng núi (In lần... Nguyễn Ngọc Tư 32 bài tản văn trong Yêu người ngóng núi là những câu chuyện "rất tình" về Đất, về Người Nam Bộ. Từ những chi tiết nhỏ như... cục kẹo, đến những vấn đề mang tính sống còn của người nông dân đã được đề cập một cách thấu đáo, chân thành và ý nhị. Có cả những chuyện tưởng chừng riêng tư nhưng lại hòa vào dòng thời sự chung như chuyện đi du lịch, nuôi dạy con, và cả chuyện yêu đương... Tập sách còn hấp dẫn bởi chất trữ tình phóng khoáng Nam bộ, cái duyên dáng tài năng thường thấy ở tác phẩm của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
    ...
  • Địa chí tỉnh Đồng Tháp Nhiều tác giả Tháp mười đẹp nhất bông senViệt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ Ai đi về miền Tây, đến ngã ba An Thái Trung (Cái Bè, Tiền Giang) rẽ vào quốc lộ 30, chẳng mấy chốc mà ta đặt chân vào mảnh đất đầu nguồn của con sông Tiền - Đồng Tháp. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Đồng Tháp, cùng với sự đóng góp của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, quyển sách này hy vọng sẽ mang đến được cho độc giả bức tranh khái quát về mảnh đất Đồng Tháp: con người, lịch sử, văn hóa, kinh tế xã hội,... từ buổi đầu cho đến năm 2005. Dựa vào những phát hiện khảo cổ, các nhà khoa học đã khẳng định Đồng Tháp là nơi cư trú của con người từ rất sớm. Nơi đây còn có dấu tích của một trong những quố gia phát triển rực rỡ ở thời kỳ Đông Nam Á cổ đại - Phù Nam. Dẫu vậy, do sự biến thiên của đất trời, nên Đồng Tháp có lịch sử dân cư đầy biến động. Đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, làn sóng di cư của người Việt từ Ngũ Quảng, cùng với cư dân bản địa Khmer và người Hoa, đã ra sức khai phá, cải tạo thiên nhiên, đưa nơi đây nhanh chóng trở nên trù phú, giao thương tấp nập. Không chỉ chịu thương chịu khó, cần cù lao động, nhân dân Đồng Tháp còn có truyền thống yêu nước dồi dào và tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất chống ngoại xâm. Cùng với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Tràm Chim, Gáo Giồng, Xẻo Quýt... nơi đây còn có biết bao địa danh ghi lại những chiến thắng oanh liệt của người xưa: Đây Vàm Nao - Cổ Hồ - cù lao Tây ghi dấu trận đánh tan quân Xiêm xâm lược, lại thêm cánh đồng Láng Linh - Bảy Thưa đến Đồng Tháp Mười vẫn còn dấu ấn của nghĩa quân Thiên hộ Dương, Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều trong câu ca: "Bao giờ hết cỏ Tháp Mười, thì dân Nam mới hết người đánh Tây"; căn cứ Đồng Tháp Mười, địa danh Giồng Thị Đam - Gò Quản Cung vẫn còn đây chất bi tráng của chiến trường miền Tây ác liệt;... Trong những lúc khó khan, tinh thần lạc quan, tin tưởng vào một ngày mai tốt đẹp đã giúp nhân dân Đồng Tháp vượt qua những tháng ngày gian khó. Những câu đố, giai thoại, ca dao, tục ngữ, câu vè,... của các tác giả khuyết danh, đến các tác phẩm văn chương hiện đại, đã phản ánh khá đầy đủ từ dấu ấn của buổi đầu khai hoang lập ấp, những ngày kháng chiến chống ngoại xâm, giữ làng giữ nước. Cũng không thể nào không nhắc đến những đóng góp to lớn của vùng đất Đồng Tháp với sự phát triển của nghệ thuật đờn ca tài tử, cải lương mang đậm bản sắc dân tộc của người miền Nam nói riêng và của cả nước nói chung. MỤC LỤCBảng viết tắtLời giới thiệuLời nói đầuPhần thứ nhất: Tự nhiên và dân cư Chương 1: Địa lý hành chính Chương 2: Địa lý tự nhiên Chương 3: Dân cư và dân số Đồng Tháp Phần thứ hai: Lịch sử và truyền thống đấu tranh Chương 1: Đồng Tháp trong buổi đầu khai phá Chương 2: Đồng Tháp từ thế kỷ XVII đến 1930 Phần thứ ba: Kinh tế Chương 1: Nông nghiệp Chương 2: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Chương 3: Giao thông, bưu điện Chương 4: Thương mại - Du lịch Phần thứ tư: Văn hóa - Xã hội Chương 1: Giáo dục Chương 2: Y tế Chương 3: Thể dục thể thao Chương 4: Phong tục tập quán, ở, ăn, mặc Chương 5: Tôn giáo tín ngưỡng Chương 6: Văn học Chương 7: Sân khấu Đồng Tháp Phần thứ năm: Kết luận chungPhần thứ sáu: Phụ lục
    ...
  • Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư khiến cho người ta thấy rằng nhà văn trẻ có thể biến mọi đề tài "tầm thường" trở thành thời sự. Ẩn sau "giọng nói" trong trẻo, duyên dáng của một cô gái là sự trải nghiệm về thời cuộc, đời sống dân dã và chiều sâu văn hoá của vùng đất cực Nam Tổ quốc... "Tôi không mê cải lương. Tôi chỉ thích thú với nghiệp của người nghệ sĩ. Họ có thể sống nhiều cuộc đời, nhiều vai diễn khác nhau. Còn tôi, hình dáng buồn cười, thô mộc, quê mùa, không trau chuốt. Hai mươi bảy tuổi vẫn yêu, vẫn tin rằng cuộc đời nầy màu hồng (mà tới một cái tuổi nào sẽ thấy nó đen thui) nên vẫn thích viết về những người tốt. Có điều những người đó sẽ không sung sướng vì tôi nghĩ, tốt mà được đền đáp thì người đời rủ nhau đi sống tốt hết rồi". Nguyễn Ngọc Tư
    ...
  • Thế giới sách

Đọc tiểu thuyết "Sông" của Nguyễn Ngọc Tư:

Khảo sát về sự biến mất  


Ảnh minh họa

Mai Anh Tuấn | TIASANG.COM.VN

Với Sông, Nguyễn Ngọc Tư càng cho thấy mình là người tận lực với cơ địa văn hóa vùng miền, bởi, xét rộng hơn, phần lớn những không gian nổi bật, những hình tượng nghệ thuật vươn tới biểu tượng trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, một cách chủ ý, đều dấp dính sông nước và những hắt bóng của nó như lời ăn tiếng nói, phong cảnh tập tục, đến nhân tình thế thái.

1/ Với Sông, con đường thể loại văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư đã có thêm một khúc rẽ mới nằm trong ước tính của nhiều người là tiểu thuyết, sau khi những cột mốc danh tiếng là truyện ngắn đã trở nên bị gián cách bởi hàng loạt tản/tạp văn ít nhiều thời vụ xen vào chật chội. Với Sông, trong cách đặt tiêu đề ngắn gọn đến tưởng như triệt hạ mọi phỏng đoán vươn tới một địa danh cụ thể (điều lí ra rất dễ bỏ phiếu đi kèm nếu chiểu theo tiểu thuyết này, như Sông Di chẳng hạn), Nguyễn Ngọc Tư càng cho thấy mình là người tận lực với cơ địa văn hóa vùng miền, bởi, xét rộng hơn, phần lớn những không gian nổi bật, những hình tượng nghệ thuật vươn tới biểu tượng trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, một cách chủ ý, đều dấp dính sông nước và những hắt bóng của nó như lời ăn tiếng nói, phong cảnh tập tục, đến nhân tình thế thái.

Chính bởi cảm thức sông nước được duy trì ẩn ngầm trong hàng loạt trang viết trước đó nên Nguyễn Ngọc Tư, giờ đây, hoàn toàn đủ năng lượng để khảo nghiệm nó như một thực thể kiến tạo nên đặc trưng xứ sở và đồng thời, như là hạt nhân cấu trúc mạch chuyện, nơi thâu nhận toàn bộ diễn biến của ngoại giới, của đời sống mà nó, những dòng-sông-nước, đã chất chứa định mệnh đồng hành.

Cũng phải nói thêm, nhờ sự thoáng chốc tan biến của Sông khi đọc lên, ngay từ đầu, nghi lễ khai sinh đã không còn vẫy gọi giọng điệu vang dội như hợp âm bốn chữ rải đều Cánh đồng bất tận, Biển người mênh mông, Thương quá rau răm, Khói trời lộng lẫy, Biến mất ở Thư Viên..., mà đơn độc chỉ dẫn về một đích ngắm biểu đạt sự ngắn ngủi, vụt hiện, tan chảy triền miên của cái hiện hữu trước mặt. Từ đó, lối viết trong tiểu thuyết này cũng sẽ có vài biến đổi dựa trên đà sẵn có của một phong cách văn chương đậm chất Nam bộ rất định hình.

2/ Thoạt tiên, Sông như một thiên tiểu thuyết - du khảo. Không khó để lẩy ra các bằng cứ cho sự hợp nhất này: một chuyến đi thám hiểm sông Di của ba chàng trai trẻ tuổi (Ân, Xu, Bối) mà hành trang của họ là máy ảnh, điện thoại, bản đồ, sổ ghi chép - nghĩa là, với chừng ấy khả năng lưu lại, ghi nhớ, chuyến đi sẽ cụ thể hóa những gì tai nghe mắt thấy theo đúng tinh thần sách kí sự như lời ông sếp của Ân gợi ý; một tư liệu khảo cổ của người Pháp và cả vài cuốn sử kí, địa dư trong quá khứ mà nhân vật chính, Ân, lấy làm cảm hứng so sánh với sự biến đổi hiện tại, điều thuộc về thao tác đương nhiên của kẻ hậu thế coi trọng thực chứng hơn là từ chương sách vở như Ân; những di ngôn của các nhà du khảo đã neo lại trong trí nhớ vốn không trật tự của Ân vẫn cứ nảy lên đúng lúc để luôn trở thành động lực thúc giục ước muốn quẳng mình về phía trước, bất chấp mọi rào cản khó khăn, hiểm nguy trên hành trình.

Ba người trẻ tuổi đó, với nỗi háo hức được đi, "đi đâu không quan trọng, miễn là được đi" (tr.7), hay đúng hơn, được phượt mà giới thị dân hôm nay ưa chuộng biến thành trào lưu, xứng đáng điển hình cho tâm tính của thế hệ đôi mươi coi trọng thực đơn cảm giác trải nghiệm gian khổ hơn là co rút trong vỏ bọc văn hóa tiêu dùng hiện đại, xa xỉ. Và, có lẽ thuyết phục hơn hết, là, đằng sau các bày biện rất có nghề của cuộc phiêu lưu, từ sự lập nhóm, làm việc nhóm, các va chạm nhỏ nhặt, các phương tiện đi lại đến cách vận dụng "tri thức bản địa" trong việc hỏi đường quá giang..., nhà văn đã phơi mở lần lượt các địa danh, địa phận và phác thảo nó theo xu hướng đặc tả không gian riêng biệt nhất có thể: ngã Chín, Tân Quới, chợ Bình Khê, chợ Lệ Kiều, Minh Hải, Đồng Nàng, Băng Khâu, Trấn Biên...Chỉ cần đeo đuổi những cái tên đó, một cảm giác xứ lạ (exotic) sẽ đến tức thì với người đọc, dù họ, đang cùng chung với mảnh đất cực Nam tổ quốc thứ ngôn ngữ mẹ đẻ.

Mặc lòng có cột cây số, có ghe-chợ, có tên đất tên người lùi lại phía sau, Sông vẫn không hề là một thiên du kí đơn thuần. Và tính chất hành trình bày chật ở đây sẽ không hiển thị khô cứng như sản phẩm của thứ tour-guide trá hình vốn đang xuất hiện khá nhiều trên văn đàn thời gian gần đây. Trong mạch di chuyển có thật nhờ yếu tố địa chí xếp chồng, trong các khuôn hình lần lượt được đính kèm như một cuốn phim quay chậm, trong mỗi khoảnh khắc thoáng hiện sắc nước mây trời một lần duy nhất không kịp tái lặp, Sông lại có khả năng thấu tụ các chiều hướng tĩnh lặng, xoáy sâu và thậm chí, bị hút vào một tiêu điểm đứng yên thăm thẳm: sự biến mất của con người, của thế giới này trong vẻ bề ngoài hiện hữu vĩnh cửu.
Ngay tại tiêu điểm ấy, những tìm biết và thức nhận không gian của nhân vật, rất ngạc nhiên, lại trái chiều với thực tế cuộc hành trình, để rọi chiếu vào kí ức, du ngoạn trong cõi vực suy tư đơn độc và khó nắm bắt nhất của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu sự di chuyển địa điểm chỉ có thể diễn ra với thân, theo nghĩa dấn thân hoặc vong thân nơi xa lạ, thì sự tĩnh lặng lại chạm khắc vào tâm, nơi trú ngụ của "quá nhiều vết thương kín đáo" (tr.79). Nét độc đáo của Sông là các điểm nhìn có khi đồng thời qui chiếu cả thân-tâm, liên/xuyên trạng thái đi-nghĩ để tạo nên du khảo kép về cuộc hiện tồn trần thế và tâm thế.

Biến mất ở Sông, trước hết, như là một thực tế thường ngày. Khi con sông Di bị những dãy nhà hai bên bờ "chồm ra bóp nghẹt" thì cách mà nó đối đáp với con người là "trả đũa cho đến khi những ngôi nhà lần lượt đổ vào sông" (tr.26). Mức độ chóng vánh và tàn khốc của cuộc trả đũa ấy, trong thế bị động yếu ớt mà con người đem ra ứng phó, đã khiến cho sự biến mất trở nên bình thường, và dưới dòng sông nước, một đời sống vừa hiển hiện đã bị xóa đi tàn tích "từ trò chơi ngẫu hứng của sông Di" (tr.31). Một hiện-hữu-trôi: nhà trôi, rừng trôi, miếu thờ trôi, "chúng ta đang trôi"..., không gì khác, là cảnh tượng sống của một vùng miền được tạo tác bởi sông nước, được duy trì bởi tố chất lang bạt, phóng khoáng đến bất cần lưu cửu trong từng xuồng ghe, làng ấp.

Nhưng rất khác với Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, nơi lớp người "tiên phuông" đi khai hoang trở nên đẹp đẽ bởi tư thế ngã xuống làm bùn đất lót đường cho con cháu mai sau; cũng rất khác với Mùa len trâu của Sơn Nam có một thế giới rũ mục sẵn sàng tái sinh sau mất mát chia lìa, sự hiện-hữu-trôi trong Sông của Nguyễn Ngọc Tư là bình thường đến dị thường, là quen thuộc đến thảng thốt, là chạm đến vùng chết/hủy bất khả phục dựng mà con người nơi đây phải đối diện, gánh chịu. Do vậy, ở bất kì một nơi chốn nào mà nhân vật đặt chân đến, cái chết, sự biến mất, bỏ đi, trống vắng..., cứ vây bọc lấy không gian hết sức ám ảnh : xác người từ ngã Chín trôi về, "lúc nổi lên họ vẫn còn ôm ghì nhau" (tr.24); Tầm Sương bị sông Di "nhón đi"; ở Tân Quới có Út Hết "bị án chung thân" vì đã giết năm mạng người; ở Bình Khê có cậu tân khoa "đang học bên Na Uy thì đột tử"; Lệ Kiều "đẹp nhất nước" nên một đứa trẻ bị bại liệt phải "dời ra khỏi thị trấn" còn người Ủ ở làng Ể Uu nơi Trấn Biên xa xôi thì từng bị diệt vong... Càng điềm nhiên liệt kê, sông Di, trong tư cách chuyên chở các tích chuyện, càng bồi đắp những vùng định cư bị biến mất, bị lãng quên vì sụt lở, vì chiến tranh, li tán, vì mưu sinh. Do đó, kinh nghiệm về hiện hữu hoàn toàn được trục vớt từ kí ức, tích lũy từ lời kể mà dấu vết quá vãng hiện lên bao giờ nhọc nhằn, chua chát, đau đớn. Nguyễn Ngọc Tư đã không chọn cách thi vị hóa, lí tưởng hóa như các bậc tiền nhân khi ngoái nhìn xứ sở mà giải phẫu nó theo những sang chấn tâm lí bất trắc, bất an, thua thiệt đã thường xuyên phủ ập lên miền đất hẻo lánh.

Biến mất để tồn tại, để được tìm kiếm, nhớ nhung và nhắc tới, trong chừng mực nào đó, là một ý niệm mới mẻ được tiểu thuyết này đề cập.

Cuộc chơi ba người, sau gần nửa hành trình, chỉ còn Ân và Xu. Bối, kẻ chỉ thích săn những cơn giông, khoái cảm với sự vần vũ của trời, khoái kịch tính vì trót sinh ra trong gia đình trí thức tẻ nhạt, bỗng nhiên biến mất không lí do, "như thể một cơn lốc xoáy đã vùi thân xác anh ta vào đụn cát, một tia sét nóng ba chục ngàn độ đã làm tan chảy đến mẩu xương cuối cùng" (tr.131). Ân "ngờ rằng Bối đang chơi trò mất tích để được tìm" (tr.71) nhưng trong bộ sưu tập cái chết đến từ giấc mơ của cậu thì "Bối nằm dưới đáy sông, miệng đầy rong rêu và chỗ mắt Bối có con cá nhỏ thập thò" (tr.141). Bối đã chết hoặc biến mất, cả hai đều chỉ ném ra như một truy vấn không hồi đáp, ngoại trừ cảm giác hụt hẫng nhói lên giữa chuyến đi của hai người còn lại. Sẽ thật khó coi chi tiết Bối mất tích mang màu sắc phi lí, hệt như sự biến mất của con người trong xã hội kĩ trị, cũng không dễ qui đó như cảm thức hiện sinh về kiếp sống hữu hạn đã chọn cái chết làm giá trị đáng kể. Cách Bối bị/tự mất, trong tương quan với trò chơi của sông Di, là cách chống lại sự quên, chống lại tính dè xẻn yêu thương mà đồng loại đang nối dài.

Cũng như Bối, Xu, một đứa trẻ mồ côi chọn chuyến đi để hiểu thêm nguồn gốc mình, đã cất tiếng hát "grừ grừ" kì quái như "tiếng của một con thú khẩn thiết kêu bầy" (tr.56). Xu không tự biến mất nhưng lại chọn cách kết thúc chuyến du khảo ở Túi, cái rốn của giông gió, nơi sẽ chấm dứt mọi phấp phỏng, phân vân mà cậu từng chia sẻ với Ân. Rồi chính Ân cũng cần sự biến mất, hay đúng hơn, đang biến mất để có cảm giác tồn tại. Bởi chỉ như vậy, Ân sẽ gây mong nhớ cho người mẹ vốn bận bịu với quá nhiều đàn ông theo đuổi; sẽ gây hi vọng cho sếp, người đã nhờ anh tìm lại hình bóng giai nhân một thuở; sẽ được lục lọi trí nhớ để không nguôi ngoai kỉ niệm với chị San, với Tú, hai người tình bất thành tính dục của anh.

Có một sông Di ngược hướng trong Ân bởi anh chỉ dẫm chân tại chỗ với mặc cảm lạc loài, dị biệt bám chắc dưới ý thức che đậy: anh là đứa trẻ không trưởng thành, là kiểu đàn ông chỉ xúc cảm với đồng giới. Ân mang theo thân thể tinh khiết để vùi lấp vào sông Di, như cách tuyệt tự cơ hội được sống là mình, được phô bày khuyết tật mà số phận đã sắp sẵn. Nếu trên hành trình du khảo, Ân đã không thể trở về như kiểu người hùng Ulysees - dù là người hùng tự thêu dệt, với khúc ca hồi hương tuyệt đẹp của mình, thì trong cuộc đi yên tĩnh của chính anh, Ân đóng vai là kẻ biến mất hoàn hảo và kết thúc bằng sự thật là cuộc đi ấy chưa hẳn diễn ra trên con sông Di cụ thể, mà đã diễn ra miệt mài trong dòng-sông-trí tưởng, nơi anh tự quyết sự hiện hữu của bản thể mình. Với Ân, hay Bối và Xu, rõ ràng, họ đủ lí do tồn tại nhưng đồng thời cũng cưu mang khả năng tiêu tán, tách rời khỏi đời sống để mà cắt nghĩa nó tường tận hơn.

3./Đặt Sông bên cạnh Sầu trên đỉnh Puvan, Biến mất ở Thư Viên, có thể thấy Nguyễn Ngọc Tư ngày một du khảo kĩ hơn tâm thế giới trẻ, kể cả việc phải dụng các đề tài thời thượng như một thao tác cấu thành tác phẩm mà nhờ nó, có thể vươn tới những phát hiện sắc sảo, thấu đáo. Ở Sông, câu chuyện về phượt, đồng tính chỉ là cái vỏ, là vẻ hấp dẫn bề mặt dù rằng nhà văn đã rất công phu trong việc ẩn giấu nó, đẩy nó lùi về sau các lớp chuyện phong cảnh địa chí.

Chỉ khi các mạch suy tư về hiện hữu/biến mất được lắng kết thì phần lõi ý tưởng mới tỏ rõ sức truyền đạt mạnh mẽ. Điều này chi phối cách nhà văn tạo giọng điệu tiểu thuyết: bên cạnh giọng điệu tưng tửng, hóm hỉnh, giễu nhại thường thấy, là giọng văn sắc lạnh, trưng thông tin mà lược cảm xúc. Nhiều câu văn đột ngột tách dòng, án ngữ như một định đề ngắn gọn. Nếu coi "văn lạnh trơ, đọc sợ" và "người viết giỏi thì không được và không nên thương hại nhân vật của mình" (tr.213) là một chủ ý khi viết Sông thì quả thật, tiểu thuyết này gây không ít hoang mang cho người đọc.

Liệu cái chết/sự biến mất của Bối là vì giông gió hay vì Xu, người từng dọa giết Bối; hay vì cơn sốc thuốc như lời kể của Bí Đỏ khi mang tro cốt anh trai nhập cuộc chuyến đi? Liệu Ân, Xu đã chìm nghỉm giữa lòng Túi hay chỉ là đoạn kết của hành trình nằm trong tưởng tượng? Tôi không cho rằng cách kết thúc tác phẩm là mới lạ nhưng lại trùng khít với tinh thần du khảo: sự thật sẽ hiện hữu khi người trong cuộc lên đường khám phá và sự thật cũng biến mất khi trí nghĩ tịch diệt tức thì.

---------
Chú thích: Các trích dẫn tác phẩm trong bài đều lấy từ văn bản "Sông" của Nguyễn Ngọc Tư do NXB Trẻ ấn hành, 2012.

YBOOK.vn


    Hiện tại chưa có thảo luận nào về vấn đề này.
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
  • CÁC TIN BÀI KHÁC
  • Những phận người chìm nổi

    Những phận người chìm nổi (08/11/2019)

    Nguyễn Khắc Phê | TUOITRE.VN

    Nguyễn Hải Yến - một cái tên mới toanh trong làng văn - vừa trình làng tập truyện đầu tay Quán thủy thần (NXB Văn Hóa - Văn Nghệ).

  • Giá như là quê hương

    Giá như là quê hương (08/11/2019)

    Phạm Vũ | TUOITRE.VN

    Những nỗi niềm ly hương bỗng bùng lên chấn động lòng người Việt trong những ngày này. Và Kẻ ly hương xuất hiện như một cái nắm tay đồng cảm: thế giới có mấy chục triệu người đã và đang là người tị nạn, những nỗi niềm này là của chung con người.

  • Những chân dung muộn của Phan Thúy Hà: Và từ đó nước mắt chảy ra

    Những chân dung muộn của Phan Thúy Hà: Và từ đó nước mắt chảy ra (01/11/2019)

    Phạm Vũ | TUOITRE.VN

    Hơn 44 năm chiến tranh kết thúc, cứ ngỡ bao sự kiện chiến tranh đều đã biết, bao khía cạnh, ngõ ngách đều đã được khảo sát, nghiên cứu. Thế mà không. Vẫn còn góc khuất chưa người khai thác, cho đến Tôi là con gái của cha tôi của Phan Thúy Hà.

  • Sống như bạn đang ở sân bay

    Sống như bạn đang ở sân bay (28/10/2019)

    Lam Điền | TUOITRE.VN

    Thời gian eo hẹp hay cảm xúc tiêu cực vẫn không cản được người sống hạnh phúc, tác giả Cúc T - một cái tên mới toanh - chia sẻ với bạn đọc tại Đường sách TP.HCM sáng 26-10 nhân dịp ra mắt tác phẩm đầu tay 'Sống như bạn đang ở sân bay'.