GIỚI THIỆU SÁCH

  • Di cảo Lưu Quang Vũ Lưu Khánh Thơ Những trang nhật ký mơ mộng, lãng mạn đến những bài thơ xé rách đầy dằn vặt, đau xót tuyển từ di cảo của nhà thơ - nhà viết kịch Lưu Quang Vũ do PGS.TS Lưu Khánh Thơ biên soạn và tuyển chọn.
    ...
  • Về miền Ví dặm cùng em Cẩm Thạch "Thơ chị Cẩm Thạch không nhiều biến hóa, không phức tạp, và thi pháp theo lối thơ truyền thống. Nổi bật lên trong thơ chị là chất tâm tình, chia sẻ, với một giọng điệu ngợi ca hồn nhiên. Về ngôn ngữ thơ Cẩm Thạch rất giàu tính ca từ. Đọc thơ Cẩm Thạch, người ta thấy chị cũng thường hướng tới chủ đề mang tính thời sự. Những sự kiện nóng bỏng của đất nước như "biển đảo dậy sóng", như "chất độc màu da cam" thường khiến chị day dứt, trở trăng mà viết thành thơ. Và với bài thơ thời sự nào chị cũng muốn gửi gắm lòng mình cùng quê hương xứ sở. Và đặc biệt, khi "Ví Dặm Nghệ Tĩnh" được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại, chị viết cả loạt bài về câu chuyện này. Mỗi bài một vẻ, nhưng tựu trung là ngợi ca "di sản" của quê hương. Ai mang câu Ví dặmTrải đồng xanh mơ màngCon đường quê rợp bóngNgẩn ngơ ánh trăng vàngXanh xanh bãi ngô nonNeo lòng người xa xứƠi miền quê nghèo khó,Nơi cát bạc gió Lào Và cuối cùng là lời mời chân thành và tha thiết với mọi người: Về miền Ví dặm cùng em." Nghệ An, 06/08/2017 Nguyễn Trọng Tạo
    ...
  • Tiếng cười thơm sân trường Cẩm Thạch Tập thơ gồm hơn 50 bài của nhà thơ, nhà giáo Cẩm Thạch.
    ...
  • Dấu chân còn ấm hơi Người... Cẩm Thạch Dấu chân còn ấm hơi Người gồm 33 bài thơ của tác giả Cẩm Thạch. Tập thơ ra đời nhân 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. MỤC LỤC Cung đàn tính Núi rừng thương nhớ Bác Đêm bên lăng Bác Con vẽ hình của Bác Phan Thiết đợi Người Nôn nao mùa thu Dâng Bác Ấm mãi tình Cha Về quê Bác Tượng đài trong lòng Mường xa con đã về bên Bác Hồ Bộ đội Cụ Hồ Quê hương đón Bác Tết Lào trên quê hương Bác ...
    ...
  • Nỗi niềm Sao Mai Tâm tình với mọi người bằng thơ là sự chấp nhận từ một trạng thái tâm lý có khi buồn, vui – Khi thả lõng như mây phiêu bạt hoặc siết chặt đến đau đớn nghẹn ngào. Tôi bắt gặp tâm tình của nhà thơ Sao Mai qua các bài thơ tràn ngập cảm xúc, trên hành trình nhân sinh đầy thú vị:Từ Cần thơ chiều: Tôi chợt lẻ loi như khách lạ bên đườngNgơ ngẩn giữa hoàng hôn như lạc nguồn sữa mẹTôi già tự bao giờ mà Cần Thơ vẫn trẻVẫn chung tình đợi chiều xuống trăng lên! Nhà thơ bắt đầu một chuyến đi trong tất tả Nhịp đời: Chỉ mỗi hàng cây với mỗi tôiVới dòng sông lạnh với đơn côiVới câu hò lửng buồn như khócVới mái chèo thưa khuấy nhịp đời! Chưa ra khỏi vòm cây, bóng lá in đậm sắc chiều, lòng người ly hương như bồi hồi, tiếc nuối một quá khứ tự tại, nhẹ một nỗi hờn trách mà chẳng cần ai biết, ai hay, nên đành Gửi nắng qua sông: Chiều em gửi nắng qua sôngLá tình thắm nhớ nhuộm lòng bay theoChiều nay nỗi nhớ trong veoLồng phiên ảnh thuở lội đèo trèo sôngChiều nay sóng rát bến mongDập duềnh chiếc lá nẩy lòng nhớ ai! ... Tập thơ Nỗi niềm với 65 bài dài, ngắn qua các thể loại và phong cách, khó giới thiệu hết được trong một khuôn khổ nhất định, nhưng tin rằng: không phải một tuyển tập này thôi, chắc chắn còn bắt gặp Sao Mai trong nhiều thi phẩm nữa. Với dòng chảy này, Sao Mai sẽ từng bước đạt được ước mơ: làm thơ là vắt sữa cho đời. Đông NguyênHội viên Hội nhà văn TPHCM
    ...
  • Lục bát ru em Lam Giang Gần 50 bài thơ với độc nhất thể loại lục bát, tác giả Lam Giang ghi lại tâm tư, cảm xúc của mình qua những nơi chốn đặt chân đến, một "Đêm mưa Hà Nội", "Một sáng sông Tiền", "Một lần phố cổ", rồi "Thung lũng Tình Yêu", "Tuyền Lâm", "Tháp Bà", "Nha Trang có biển", v.v.. qua những cỏ cây hoa lá "Bất chợt hoa xoan", "Gặp lại hoa đào" hay chỉ là một "Cuối chiều" vẻn vẹn với 6 câu: Cuối chiều ngày hết rồi emKhép căn phòng lại, đi tìm nàng thơTặng mình một thoáng vu vơTặng em chắc cũng hững hờ phôi phaiThôi thì gửi tặng gió mâyCho mình còn một chút say với nhiều. Mỗi bài những đề tài khác nhau, nhưng một điểm chung là sự xuất hiện của nhân vật "em" trong hầu hết tất cả tác phẩm. Dường như đó là nguồn cơn, là cảm hứng và cũng là người mà Lam Giang muốn gửi gắm những vần thơ... Lục bát ru em! MỤC LỤC Đêm mưa Hà Nội Bất chợt hoa xoan Chiều ba mươi Viếng chùa Gặp lại hoa đào Ghé thăm mình Trong thung lũng Tình Yêu Tuyền Lâm Tháp Bà Nha Trang có biển Với hòn Chồng Một lần phố cổ Cần Thơ Đêm Rạch Giá Biển ru Một sáng sông Tiền ...
    ...
  • Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ Phạm Sỹ Sáu Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu.[...] Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh.[...] Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Đoạn rời ở suối Thmey Từ một tin đồn Mắc võng trong rừng le Ghi thư trên đường hành quân Trận địa Thôpjăng Run sống và chiến đấu Đêm trăng trên chốt 4 Ở điểm cao 194 (chốt 2) Đêm trăng ở rừng dầu Kratie Đêm giao thừa ở biên giới Tây K Lục bát Palin Hành quân về Amleng Chiều mưa Poi Pet ...
    ...
  • Điểm danh đồng đội Phạm Sỹ Sáu Hãy sắp hàng vào cho tao điểm danhNhững thằng lính ở miền xa rất trẻHãy sắp hàng vào để nghe tao kểChuyện đánh nhau và chuyện... yêu nhauA! Có thằng nào còn mang băng trắng trên đầuTiến một bước, nếu thấy còn chỗ trốngĐừng băn khoăn nếu có thằng hy sinh và thằng...chạy trốnCòn lại tụi mình thì vẫn cứ thương nhauHãy vì nhau mà đừng để lòng sầuBởi cái chết chẳng thể nào tự đến.... Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. ...Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh... Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn   MỤC LỤC Bài hành tráng sĩ mới Nghe chim "bắt cô trói cột" giữa rừng Mê-lai Buổi sáng Không chỉ là mặt trận Thơ viết ở Âm-pin Bà má Miền Tây Trăng giữa rừng Ở phương nầy Tiễn đưa Với miền Tây Bắc-xa Chia tay đồng đội Nợ Kỷ niệm xôn xao Trong vườn xoài Pre-nét Pre Mùa mưa đời lính đi qua Theo mùa xuân vào Pai-lin Tiếng tắc kè Trước đền Ăng-co ...
    ...
  • Ra đi từ thành phố Phạm Sỹ Sáu Ra đi từ thành phố đạt giải nhất thơ Cuộc vận động sáng tác Văn Học kỷ niệm 40 năm thành lập nước do Hội Nhà Văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức năm 1986. Tập thơ ngoài bản trường ca mà tác giả lấy tên đặt cho cả tập còn có 5 bài thơ khác nữa. Tuy nhiên, có thể xem các bài thơ ấy là sự bổ sung, sự tiếp nối bản trường ca vốn mang nhiều tâm huyết của anh. Phạm Sỹ Sáu dành vị trí danh dự cho bản trường ca Ra đi từ thành phố. Trường ca là thể tài được nhiều nhà thơ sử dụng khi cần thể hiện cảm hứng công dân trong một dung lượng lớn mà một vài bài thơ không chứa nổi. Cho đến giờ, ở ta, ít có những trường ca thuần khiết. Đó là lý do trường ca trên thực thế được coi là trường thi (thơ dài). Nói thế để thấy rõ vai trò đặc biệt của chất trữ tình trong cái gọi là trường ca ở ta. Trong trường ca có kể, có tả song câu chuyện và hình ảnh phải thấm đậm cảm xúc, suy tư. Tiếc là chất trữ tình trong nhiều đoạn của tập thơ chưa thật tương xứng. Đôi đoạn còn sa vào kể lể dài dòng. Bản trường ca chưa gây được ấn tượng thật mạnh, thật sâu là vì thế. Giá có nhiều đoạn như đoạn sau thì sự thể có lẽ sẽ khác: Nhận đồng hương chút cho vuiNghe em nói, thấy em cười, thế thôiTrao kỷ vật dưới chân đồiNụ hoa tím nói thay lời... chia tay Mỗi câu, mỗi từ đều nồng ấm cảm nghĩ. Chính cái chất trữ tình này đã làm say cuốn người đọc trường ca. Cũng cần đòi hỏi cao hơn sự tinh luyện của câu chữ. Chớ nên để tồn tại những câu thơ thiếu sức ngân vang như câu này: Chưa biết hoa gì có làn hương thoảng qua từng chặphương thoảng qua mà xốn xang trong lòng Cũng chớ nên để ngôn từ thành hàng rào ngăn chắn cảm xúc của người đọc như từ "tao ngộ" trong trường hợp sau:lần đầu tiên chúng tôi bị độngtrước kẻ địch lẩn nhanh như sócchút tao ngộ cho chúng tôi bài học Những hạt sạn như thế không nhiều, song không phải là không đáng nói, nhất là với những cây bút có nghề. Dẫu sao Ra đi từ thành phố cũng là một đóng góp qúy giá của Phạm Sỹ Sáu vào dòng thơ viết về chiến tranh và người lính. Tác giả đã chọn cho mình một giọng điệu riêng khá thích hợp nhằm dựng lại chân dung tinh thần của người cầm súng trong cuộc chiến mới của dân tộc mà cho đến giờ còn ít được thể hiện trong thơ. Những cơn mưa đi vào lòng thành lửaCháy không nguôi những kỷ niệm chiến trường Xin cảm ơn ngọn lửa trong thơ anh đã góp phần thắp lên ngọn lửa trong lòng bạn đọc chúng ta. Người lính "Ra đi từ thành phố", Đà Lạt, 21-6-1995   MỤC LỤC Ra đi từ thành phố (Trường Ca) Chiến sĩ mới Đến với biên giới miền Đông Nhìn lại Kỷ niệm về những con người Kỷ niệm về những địa danh Hành tráng sĩ mới Tiễn đưa Cảm xúc trước một tượng Bay-on không nguyên vẹn Mùa mưa đời lính đi qua Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ
    ...
  • Thơ với tuổi thơ Phạm Sỹ Sáu Tráng sĩ không bơi qua sôngTráng sĩ đi bằng đường khôngTráng sĩ đi bằng xe kháchTráng sĩ lên đường lòng hề mênh mông, mênh mông Không là Kinh Kha ngày xưa qua sông DịchKhông là thở than của khúc Tống biệt hànhTráng sĩ chừ qua sông, qua sôngSống vỗ mạn phà hề sóng vỗ Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử. Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khu biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. Trong một lần lên điểm tựa Chi Ma (Lạng Sơn) đọc thơ, Phạm Sỹ Sáu thông cảm với những gian nan dường như là số phận của đời lính ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời nào: Mười năm chiến trường trộn vào câu chuyệnHòa lẫn tiếng lòng nỗi nhớ tình yêuLính biên giới hướng nào gian khó cũng nhiềuCũng thừa muối thiếu rau những bữa cơm điểm tựa. Nhưng phải chăng lính tình nguyện ở Campuchia thiệt thòi, vất vả hơn? Các anh ở đây có thông làm chỗ tựaCó câu hát sli lượn như sóng Kỳ CùngCác anh ở đây có dân bản Tày NùngCó tiếng Việt kết câu bằng chữ vớ. Kết bằng chữ gì thì vẫn cứ là tiếng Việt, để người cầm súng yên tâm rằng mình đương được Đất Mẹ chở che Các anh hạ sơn gặp con suối cạn/ Có hoa sim tím, có trẩu, có mua/ Gặp cơn gió lùa nhanh qua hẻm núi/ Gặp hương đất nước trong bài dân ca. Bài thơ viết năm 1987. Từ biên giới Lạng Sơn "Trở lại Tây Bắc K", tiếp tục những ngày chiến trận bên ngoài biên giới Tổ quốc, tâm hồn Phạm Sỹ Sáu như trĩu nặng thêm Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn bao nhiêu thằng nằm lại/ Mà vinh quang - chùm con chữ dư thừa. Một cái chép miệng chua chát đôi khi trở thành giận dữ trước bao điều ngang tai trái mắt của thời kì "tranh tối tranh sáng" mà người lính dù ở xa ngàn dặm vẫn phải gánh chịu, không thể dửng dưng. Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn cứ đêm ngày trăn trở/ Về sự hy sinh/ Về tốc độ mất giá của đồng tiền/ Về những điều thiêng liêng và đốn mạt/ Chiến tranh đâu phải là canh bạc/ Mà người lính nào cũng tin vào hên xui. Đến những bài thơ viết cuối thập niên 80, Phạm Sỹ Sáu đã vượt qua sự hồn nhiên, kể lể để đi dần đến những kết tinh có tính khái quát, mang nặng suy tưởng, chiêm nghiệm. "Thơ tặng chiến sĩ vô danh" viết sau ngày bộ đội tình nguyện Việt Nam hoàn thành lộ trình rút quân khỏi Campuchia là một bài thơ hay, đa nghĩa. Có một chút hờn dỗi trong những câu này Cuộc chiến tranh đã đi qua/ Sau những hội hè lễ đón/ Thiên hạ cứ yên tâm đã làm trọn/ Những gì cần làm đối với người lính tình nguyện Việt Nam. Nhưng nhiều hơn những chống chếnh, lo lắng mơ hồ, tưởng như vô lí nhưng rất thành thực, chỉ những ai từng đi qua chiến tranh mới cảm nhận được. Nhà thơ nói về những người đã ngã xuống hay nói về chính thân phận những người lính hậu chiến? Không có chiến tranh/ Không có quân tình nguyện/ Mỗi mình anh trò chuyện/ Cùng đêm và ngày nơi xa.../ Tổ quốc cũng là anh/ Người lính độc hành trong từng hơi thở/ Đêm và ngày không tỏ/ Anh - một mình/ hy sinh/ Không đồng đội - không bạn bè/ Anh một mình cùng tiếng nói/ Nghe từ xa, rất xa. Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh. Ở chặng thơ đầu thập kỷ tám mươi, bài thơ sẽ còn được in lại dài dài là "Bài hành tráng sĩ mới", một thành công đột xuất giữa rất nhiều bài bình thường trong tập thơ dày tới hơn hai trăm trang "Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ". Nhà thơ, nhà phê bình văn học Hoài Anh coi đây là bài thơ "nhại" lại Tống biệt hành nổi tiếng của Thâm Tâm bằng cách "đối chiếu với các hoàn cảnh thường ngày và lịch sử của nó". Thời chống Mỹ, trong những bài thơ đầu đời lính, Thanh Thảo đã làm điều đó trong "Bài ca ống cóng". Những tráng ca thuở trước/ Còn hát trong sách tôi/ Những thanh gươm yên ngựa/ Giờ đã cũ mèm rồi/ Bài ca của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời... Sự lặp lại thủ pháp này của hai thế hệ thơ cách nhau mười năm một phần là do sự trùng hợp của hoàn cảnh và tâm trạng: những thanh niên có học, khi đối diện với thực tế trần trụi của chiến trường đã tự rũ bỏ những ảo tưởng hiệp sĩ nhiễm từ lớp lớp trang thơ cổ. Chiến tranh không phải trò đùa, càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải được khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22/1/2005 Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Lời giới thiệu Trăng thượng tuần ở Poi Pét Ca-chiu-sa giữa rừng Chia tay cửa rừng Kỷ niệm xôn xao Điều bất thường bình thường Gởi bạn bè chiến trường ở Âm-pin Đọc thơ ở điểm tựa Chi Ma Trở lại Tây Bắc K Thơ tặng chiến sĩ vô danh Lính rừng sâu Cũng đành Ở phương này Tiếng tắc kè Gửi bạn bè làm xong nghĩa vụ Bài hành tráng sĩ mới Bài thơ xanh Tự thú trước đền Angkor Một chút ngày Giêng
    ...
  • Khúc ca đồng đội Phạm Sỹ Sáu Khúc ca đồng đội xuất bản lần này như một lời tri ân, như một niềm hồi tưởng dẫu có muộn màng. Chiến tranh biên giới Tây Nam đã bước vào kỷ niệm tuổi 30 mà gương mặt đồng đội ngày xưa qua điểm danh sao vẫn còn thiếu vắng. Xin bắt đầu chiến dịch mới - chiến dịch thăm lại chiến trường xưa - bằng khúc ca của những ngày gian khó. Hy vọng Khúc ca đồng đội sẽ là món quà nhỏ trong hành trang trở lại nơi bắt đầu hoặc bắt đầu từ một nơi sẽ trở lại – Campuchia. Sau ngày 26.09.1989 – ngày người lính tình nguyện Việt Nam cuối cùng rời khỏi Campuchia trở về Tổ quốc, tôi may mắn có được ba lần trở lại đất nước Ăng ko - một lần bằng đường không và hai lần bằng đường bộ. Từ trên máy bay nhìn xuống hay từ mặt đất nhìn ngang, ở đâu tôi cũng bắt gặp những hình ảnh thân thương, tường chừng như máu thịt. Những dòng sông con suối, những cánh rừng phum làng, những ngọn núi cánh đồng - tất cả thật thân quen, thật gần gũi. Sự xa cách về địa lý chính trị dường như không còn nữa khi tôi có dịp đi qua những phum làng một thời chưa xa tôi và đồng đội đã có dịp đặt chân qua. Một thời tuổi trẻ chúng tôi đã chen vai sát cánh cùng quân và dân Campuchia bảo vệ cuộc sống yên bình trong phấp phỏng chiến tranh và bất an rình rập. Một thời mà mỗi bước tiến công là những hy sinh mất mát, nhiều đớn đau lo âu. Giờ đây có dịp trở lại những vùng đất của một thời trong khung cảnh hòa bình thật sự, bên cạnh những người-còn-lại-may-mắn cùng gia đình, tôi mới cảm nhận đầy đủ giá trị của những năm tháng chiến đấu giữ nước từ xa và giúp bạn là tự giúp mình. Mỗi chặng đường qua, mỗi ngày vừa tới trên hành trình trở lại, tôi cảm nhận đầy đủ hơn tiếng gọi bạn bè. Trong mênh mông đồng lúa, trong nhộn nhịp phố thị, trong tĩnh lặng phum xa, trong uy nghiêm đền tích... đâu đâu tôi cũng cảm nhận những ánh mắt trìu mến thân thương của những đồng đội đã khuất của mình. Phạm Sỹ SáuĐầu mùa mưa 2008
    ...
  • Thơ trong sổ tay bạn trẻ Trần Đồng Minh Cái ngày cô chưa có chồngĐường gần tôi cứ đi vòng cho xaLối này lắm bưởi nhiều hoa...(Đi vòng để được qua nhà đấy thôi).Một hôm thấy cô cười cườiTôi yêu yêu quá nhưng hơi mất lòngBiết đâu rồi chả nói chòng:"Làng mình khối đưa phải lòng mình đây!"Một năm đến lắm là ngàyMùa thu mùa cốm vào ngay mùa hồngTừ ngày cô đi lấy chồngGớm sao có một quãng đồng mà xa.Bờ rào cây bưởi không hoaQua bên nhà thấy bên nhà vắng teoLợn không nuôi, đặc ao bèoGiầu không dây chẳng buồn leo vào giànGiếng thơi mưa ngập nước trànBa gian đầy cả ba gian nắng chiều Qua nhà - Nguyễn Bính Trước mặt bạn, trong tay bạn là những bài thơ tuổi xanh yêu thích. Một số bạn yêu thơ, làm thơ và nhiều học sinh lớp chuyên trường PTTH Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa (TP. Hồ Chí Minh) đã nhiệt tình góp nhặt. Không ít bạn chép kín năm, bảy trang thơ hằng ấp ủ. Có những bạn nêu ra đôi, ba bài đặc sắc bất ngờ. Vui mừng biết bao, truyền thống thơ của nước nhà vẫn chảy mạnh trong tâm hồn trẻ. 91 áng thơ chưa thể tập hợp hết lời ca, tiếng nói trái tim đã ngân rung bao đời nay. Có lẽ xin hẹn ở các tập tuyển tiếp. Ở đây là những bài thơ được các bạn trẻ yêu thích sưu tầm và tập hợp lại. Nhiều tác giả trẻ, họ mới cầm bút nhưng được đông đảo bạn đọc yêu mến.
    ...
  • Xôn xao đầu hạ Trần Thanh Chương Hành quân qua đỉnh đèo NgangPhút giây bỗng thấy mơ màng cõi tiênGiơ tay với áng mây mềmBước chân xen tiếng êm đềm sóng khơiLâng lâng cánh gió ru hờiNơi đây Non - Nước - Biển - Trời gặp nhau...Khuất xa đèo tự lúc nàoVẫn còn tiếc giấc chiêm bao đỉnh đèo. Trích "Một thoáng đèo Ngang" - Xôn xao đầu hạ Cuộc sống sôi động của người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã làm người bác sĩ quân y Trần Thanh Chương có nhiều rung cảm, nhiều trải nghiệm đáng quý. Chất lính, chất tình hài hòa, bay bỗng, quyện với chất triết luận sâu sắc tạo cho thơ Trần Thanh Chương vừa hiện thực, vừa lãng mạn, rất đời thường mà vẫn gợi mở nhiều tình ý sâu xa. 42 bài thơ được viết trong khoảng thời gian từ 1971 - 2007, là những giãi bày, những niềm vui, nỗi buồn, niềm hy vọng, sự khát khao vẻ đẹp của con người và cuộc sống. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Xôn xao đầu hạ - Tập thơ đầu tay của bác sĩ Trần Thanh Chương - một người nặng tình với thơ. MỤC LỤC Ước Một thoáng đèo Ngang Tết Lời ru vùng ven Giấc ngủ ở hầm chữ A Tưởng chiêm bao Hoa khế Sông Yên Đợi Gió ru Lên Tây Bắc Ngu ngơ Nghiêng Thử thách Lãng mạn Lục bát lời ru Lặng lẽ phù sa Cảm xúc Di Linh Em gì ơi! Tâm sự nghề y Giữa phố Sài Gòn Vào Phương Nam Một góc Điện Biên Nắng Cần Thơ Vũng Tàu ...  
    ...
  • Chia tay cửa rừng Phạm Sỹ Sáu Chia tay cửa rừng là tập thơ của Phạm Sỹ Sáu gồm hầu hết những sáng tác đã viết trong thời gian tác giả là người lính chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Một ít bài được viết trong thời gian đi thực tập ở biên giới phía Bắc năm 1986-1987. Có thể nói đây là bộ sưu tập những bài thơ nổi tiếng của Phạm Sỹ Sáu đã từng được công bố trên các phương tiện truyền thông, tạo nên mối cảm thông sâu sắc với người hậu phương trong giai đoạn đất nước vừa có hòa bình lại vừa có chiến tranh. Đây là tập thơ được trao Giải B viết về đề tài Lực lượng Vũ trang nhân dân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam giai đoạn 1999-2004, Giải thưởng Văn học Sông Mêng lần thứ 2 tại Phnom Penh, CPC năm 2009. Bản xuất bản lần này có chỉnh sửa và bổ sung cho đúng những địa danh thực tế.
    ...
  • Khi ta còn có trái tim Trương Tâm Trong Khi ta còn có trái tim có những bài thơ Trương Tâm viết về các sự kiện chính trị gần đây: từ tình hình Nước Nga hậu Xô Viết, ông Putin được bầu làm tổng thống đến vụ ám sát bà Benazir Bhutto hay cuộc chiến kéo dài ở Palestine khiến những con người mất nước phải chui rúc trong những tổ rơm. Có những bài thơ lại là lời nhắn gửi của tác giả đến với những con người xung quanh: từ đứa con gái thân yêu đang "học tập" ở "trường đời" đến những đứa cháu được sinh ra trong hòa bình; cho đến những người bạn học thân thiết, những người đã từng cùng ông chiến đấu, những người đã yên nghỉ, những cô bé, cậu bé, chị, anh, em ông tình cờ gặp trên đường,.. Và cũng có những bài thơ là sự kết hợp giữa tinh thần Phật giáo với văn hóa nhân loại. Với tập thơ Khi ta còn có trái tim, Trương Tâm đã phục hoạt những giá trị tâm linh và định hình những cảm xúc có tính lịch sử của con người trong cuộc sống trên cả ba bình diện: cá nhân, dân tộc và toàn cầu. MỤC LỤC Cùng một tác giảLời mở đầuLời cảm ơn đặc biệtPhần 1 - Cho hoa sen nở giữa trái tim người Vấn nạn 1: Trần thế hay Niết bàn Giảng đường, giờ giới nghiêm 1963 Lửa Bồ Tát Tiếng chuông chùa Theo mẹ lên chùa Dâng hoa cúng Phật Ngày tắm Phật Công án Phật Biện chứng Kim Cương Nằm mơ nghe Phật thuyết pháp Hoa vô thường Khi ta còn có trái tim Chào em chân tánh đóa sen hồng Ngọn lửa hồng tôi sẽ đốt Tôi, tình yêu và lộ trình đi về cõi chết Tôi là một hạt bụi Đi tìm Thượng Đế Vịnh bức tranh cây bách do Minh Châu vẽ Tự tình 74 Tử sinh Phục sinh Vô thường, viết cho bạn bè đã chết Đêm thiền Phần 2 - Tâm thức dân tộc Vấn nạn 2: Tồn tại hay hủy diệt Tuyên ngôn độc lập Cô du kích Củ Chi Hát giữa biển, trời Nói với các cháu Đọa đầy Con đi học ngày đất nước đổi thay Đưa con về thăm quê nội Ngày đầu tiên đứng lớp Cảm nghĩ nhân ngày gặp bạn ở quê người Lâm, hãy yên nghỉ Khóc bạn Tưởng nhớ Trịnh Công Sơn Tiên ông xuống đời Tôi đi tìm lại hồn dân tộc Phần 3 - Tâm thức toàn cầu Vấn nạn 3: Toàn cầu hóa hay thống trị Thơ như niềm công phẫn lịch sử Biển, trời của ai Cảm xúc biển Thư gửi người con gái Palestine Đen và trắng Cảm thông về cái chết của bà Benazir Bhutto Aung San Suu Kyi, người đàn bà đứng sau khung của trại giam Về nước Nga hậu Xô Viết
    ...
  • Vườn mộng Thanh Yến Nữ thi sĩ Thanh Yến thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau năm 1975. Tuy sinh sau đẻ muộn nhưng với khát vọng và sự sáng tạo bền bỉ âm thầm, Thanh Yến đã làm nên tên tuổi của mình trên thi đàn Việt Nam với nhiều tập thơ có giá trị như: Miền trăng lạ, Khoảng khắc vườn thu, đặc biệt hơn cả là tập thơ Vườn Mộng. Thơ cô là những con chữ mượt mà, mang nặng một nỗi niềm day dứt, giàu chất suy tư và trải nghiệm với đời như thế này: Thôi thế từ nay trót lỡ làng Tình mình hẹn lại đến mùa sang Dấu kín vào thơ dòng tâm sự Giận người em giận cả thời gian (trích Giận người giận cả thời gian) Đâu đó còn mấy bài thơ cô viết tặng người con trai tài hoa nhưng yểu mệnh của mình với trái tim bao la của người mẹ. Với những ngày tưởng như êm ả Lại là tột đỉnh của đau thương Căn phòng bệnh lên màu trắng xóa Còn thều thào dư ngữ lúc lâm chung "Nhớ em, thương cha, nát lòng đau nghĩa mẹ" Đôi tay này mẹ bất lực nhìn con! (trích Xa con mãi mãi) Vào Vườn Mộng xin bạn nghĩ thật khẽ, để nghiệm ra những âm thanh dịu nhẹ của một cõi thi ca...  
    ...
  • Có hai dòng văn chương Hải Như Sách gồm hai phần. Phần một: Thơ; Phần hai: Tản văn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
    ...
  • Làng ta

Nhà thơ Thanh Tùng 'Thời hoa đỏ':

Một thời sống bằng... nắm đấm  


Năm 2013, bạn văn ở TP.HCM bỏ kinh phí in tặng Thanh Tùng tập thơ Thời hoa đỏ và những bài thơ chọn lọc sau khi ông bị tai nạn giao thông chấn thương cột sống. Tập thơ chia thành các phần: Hải Phòng và những tháng ngày lang bạt; Quả táo Hồ Chí Minh và những bài thơ viết ngoài vòng tay Tổ quốc; Hà Nội - Huế - Sài Gòn và những lời tình dang dở; Nhịp điệu Phương Nam và những dòng thơ ngắn

Hoàng Nhân | THETHAOVANHOA.VN

Ngày 8/7, nhà thơ Thanh Tùng cùng nhiều đồng nghiệp cầm bút đang sinh sống tại TP.HCM vừa ra Hà Nội dự Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 9. Dù sống ở phương Nam 20 năm nhưng mỗi lần ra Hà Nội với Thanh Tùng như là dịp "trở về".

* Trông ông đang rất háo hức cho chuyến đi dự Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần này?

- Đại hội 5 năm diễn ra một lần khiến tôi rất háo hức và mong chờ. Là người viết, quan trọng là sáng tạo của mỗi cá nhân chứ không phải chuyện bầu bán ai vào Ban chấp hành, ai làm chủ tịch hội. Với tôi, đại hội là dịp để gặp mặt bạn viết, tay cầm tay, thăm hỏi sức khỏe của nhau. Tôi năm nay 80 tuổi rồi, gặp mặt bạn viết sau 5 năm, xem ai còn ai mất rất có ý nghĩa.

Hơn nữa, Hà Nội gắn bó với tôi nhiều thứ. Hà Nội đi vào thơ tôi như một phần không thể thiếu trong cuộc đời sáng tác của mình. Nhiều người biết bài hát Hà Nội ngày trở về của Phú Quang phổ nhạc thơ tôi. Tôi viết về Hà Nội với tất cả tình cảm chân thành của mình: "Hà Nội ơi, mỗi khi lòng xác xơ, tôi vội vã trở về. Để lấy cho mình dù chỉ là chút bóng đêm, trên đường phố Khâm Thiên... Tôi bồi hồi khi chạm bóng cửa ô, như ngày xưa chạm vai gầy áo mẹ. Ôi nỗi nhớ muôn đời vẫn thế, như dòng sông Hồng cuộn đỏ mãi trong tôi".

* Ông quê ở Nam Định, lớn lên ở Hải Phòng, tuổi già sống ở Sài Gòn, dường như Hà Nội trong ông chỉ là thoảng qua?

- Chính vì thế, tôi mới viết trong bài Hà Nội ngày trở về: "Vội vã trở về vội vã ra đi. Chẳng thể nào qua hết từng con phố...". Hà Nội không chỉ riêng tôi, mà có lẽ còn với nhiều người, tuy chỉ thoáng qua đó dù chỉ một lần, vẫn để lại nhiều ấn tượng sâu đậm. Với nhà thơ như tôi, sự sâu đậm đó được khắc họa bằng sáng tác của mình.

* Biết nhà thơ Thanh Tùng gắn bó nhiều năm với Hải Phòng, mọi người đều cho rằng bài thơ Thời hoa đỏ của ông viết về "thành phố hoa phượng đỏ"?

- Bài Thời hoa đỏ của tôi được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc: "Mỗi mùa hoa đỏ về. Hoa như mưa rơi rơi... Trong câu thơ của em, anh không có mặt. Anh đâu buồn mà chỉ tiếc. Em không đi hết những ngày đắm say". Nhiều bạn đọc cứ nghĩ tôi ở Hải Phòng và Hải Phòng có nhiều hoa phượng nên cứ "mặc định" là bài này viết về thành phố cảng. Kỳ thực, bài này tôi viết về người vợ quá cố của mình, bà tên Nhàn.

* Được biết, cuộc hôn nhân của ông với bà Nhàn không có kết cục đẹp như thơ?

Nhà thơ Thanh Tùng tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 8 - 2010

- Chính vì kết cục không như mơ, nên tôi mới viết: "Anh đâu buồn mà chỉ tiếc. Em không đi hết những ngày đắm say". Cuộc hôn nhân này im đậm trong nhiều sáng tác của tôi, ví dụ bài Thất tình, tôi viết: "Em đã để lại trong tim tôi một mũi dao. Thỉnh thoảng lại nhấn sâu thêm một chút. Tôi mang nó suốt đời, còn em thì không biết. Những mùa Thu ướt máu vẫn đi về. Bây giờ mọi thứ thuốc đều vô hiệu. Tôi chữa bằng rượu thôi. Nhưng có sao, khi trái tim tôi đã thành bình rượu. Và mũi dao kia chắc đã say mèm".

Tôi hiện sống với con gái Lan Hương tại Sài Gòn. Lan Hương là kết tinh của mối tình giữa tôi và bà ấy. Đời tôi thế này cũng đủ gọi là hạnh phúc với con cháu rồi.

* Ông và bà Nhàn chia tay khoảng những năm 1980 nhưng mãi đến năm 1995 ông mới đi bước nữa. Chuyện ông đi bước nữa nghe kể cũng rất ly kỳ?

- Năm 1995, tôi 60 tuổi đang đi đi về về giữa Hà Nội - Hải Phòng. Vợ chồng nhà thơ Hoàng Hưng đang sống tại TP.HCM, biết hoàn cảnh đơn chiếc của tôi, đã mai mối bạn của họ là bà Thanh cho tôi. Thời chiến tranh chống Mỹ, bà Thanh đi thanh niên xung phong và gửi cả tuổi trẻ của mình ở đó. Ngày tôi vào Nam cưới bà Thanh, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha tiễn tôi ra ga, chỉ vào cái ba lô con cóc của tôi, Kha nói đùa: "Tài sản 60 năm cuộc đời là đây".

Tôi vào sống với bà Thanh với tài sản là cái ba lô con cóc. Thương bà, tôi viết: "Anh đang sống trong ngôi nhà của em, đã mua với giá của cả thời thanh xuân thiếu nữ".

* Ngoài các sáng tác được phổ nhạc nhiều người biết, ông còn nổi tiếng với khả năng ứng khẩu thành thơ.

- Tôi là người dễ xúc động và mau nước mắt. Trước những mảnh đời thương tâm, tôi rất dễ khóc. Bạn bè hay trêu tôi là người "hay khóc và hay hát". Khi mới vào TP.HCM, đang ngồi bia hơi vỉa hè, có một cháu bé mời mua vé số, tôi sờ túi không có tiền để mua nên khóc ngon lành. Ngay sau đó, tôi ứng khẩu bài thơ, được một bạn thơ ghi lại, rằng: "Tôi khóc vì không có tiền mua vé số. Mua cho tôi một niềm may. Mua cho em một niềm vui. Và biết đâu mua cho em một tấm vé vào đời". Tính hay xúc động của tôi, chắc "bị lây" từ nhà văn Nguyên Hồng. Tôi mê Bỉ vỏ của Nguyên Hồng từ thuở nhỏ, lớn lên được hầu rượu ông thường xuyên, thấy ông dễ xúc động và tôi cũng rơi nước mắt tự lúc nào không hay. Còn tôi hay hát là bởi thích hát thơ của mình thay vì đọc, chuyện chỉ vậy thôi.

Nhà thơ Thanh Tùng và con gái Lan Hương - kết tinh của mối tình "thời hoa đỏ" giữa ông và bà Nhàn

* Có giai thoại kể rằng, nhờ tài ứng khẩu và hát thơ mà ông đã đánh đuổi được bọn cướp?

- Chuyện đó bạn bè đùa vui với tôi thôi. Thời chiến tranh chống Mỹ, tôi làm công nhân đóng tàu ở Hải Phòng. Khi đó bút giấy rất hiếm, tôi thường làm thơ bằng các cục than viết lên các tấm thép. Nhưng làm thơ như vậy thì đâu có lưu lại được, nên sau này tôi nhẩm thơ trong đầu đến thuộc luôn. Chính cách làm thơ như thế đã tạo cho tôi khả năng ứng khẩu rất nhanh. Trước một vấn đề, một câu chuyện khiến tôi xúc động, tôi đều có thể đọc ra thành một bài thơ rồi về nhà chép ra giấy.

Sau khi thôi làm công nhân "quai búa" ở nhà máy đóng tàu, thời bao cấp tôi chuyển nghề làm "áp tải" hàng từ cảng Hải Phòng lên Hà Nội. Thời đó, đường 5 trộm cướp rất nhiều, mỗi chuyến áp tải hàng phải căng mắt quan sát để không bị mất hàng. Tôi cũng hay tự giễu mình: "Tên cướp nào lì lợm, tôi không đọc thơ nữa mà chuyển sang hát thơ của mình. Nếu chúng vẫn lì lợm không chạy thì tôi chuyển sang... khóc bằng thơ thì bọn cướp phải bỏ của chạy lấy người thôi".

* Việc ông làm nghề "áp tải" hình như đã khiến nhà thơ Trần Nhuận Minh cảm tác thành bài thơ Nhà thơ áp tải, sau này ông Minh in thành tập Nhà thơ và hoa cỏ?

- Trần Nhuận Minh (anh ruột Trần Đăng Khoa - PV) khi đó làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Ninh. Tôi thường xuống Quảng Ninh chơi với Minh. Tính Minh cũng dễ xúc động, biết tôi - một nhà thơ - đi làm nghề áp tải hàng, Trần Nhuận Minh cảm tác nên bài Nhà thơ áp tải. Những gì Trần Nhuận Minh viết trong Nhà thơ áp tải hoàn toàn đúng với hoàn cảnh của tôi lúc bấy giờ. Chẳng hạn như đoạn thơ này: "Đất nước có một thời/Kẻ gian nhiều như nấm/Không ngờ một nhà thơ/Lại sống bằng nắm đấm".

* Đời thơ của ông xuất phát từ đời thợ, nếu nói về hai cuộc đời thơ và thợ cùng tồn tại trong ông, ông sẽ nói thế nào?

- Tôi bắt đầu đời thơ ngay trong những ngày lam lũ đời thợ. Đời thơ và đời thợ theo tôi suốt mấy chục năm như tôi tự bạch trong Hải Phòng - muối của đời tôi: "Tôi làm thơ từ sau xe bò chở gạch, đến quảng trường nổi gió lúc nửa đêm".

Tự nói về mình bao giờ cũng khó, tôi xin dẫn lại nhận xét của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, người bạn vong niên của tôi: "Thanh Tùng khác biệt những nhà thơ công nhân cùng trang lứa. Bên cạnh cái thô ráp, Thanh Tùng có cái phiêu lãng và cái phóng túng của một kẻ dường như chỉ sinh ra để đóng vai thi sĩ, dẫu năm tháng lao động chân tay nhọc nhằn: "Cái nghề khuân vác của tôi. Trong mơ còn thấy giọt mồ hôi cười. Tôi sợ nó và tôi yêu nó. Như người mẹ sợ cơn đau đẻ nhưng vẫn thèm có con"; thì ông vẫn ý thức rõ ràng: "Con chỉ của mẹ cha một nửa. Một nửa còn của những quãng đường xa. Của những cơn gió xé hết mình trên bến bãi. Của những nỗi đau chưa biết mặt bao giờ". Đọc thơ Thanh Tùng giống như bước vào một vùng cảm xúc mâu thuẫn, giữa sự ngang tàng và sự yếu đuối, giữa sự tinh tế và sự vụng về, giữa sự mạnh mẽ và sự dở dang!".

Tôi đã phổ của Thanh Tùng ba bài thơ, riêng bài Hà Nội ngày trở về thì câu hát “Vội vã trở về, vội vã ra đi” đã trở thành câu cửa miệng của nhiều người. Phải thừa nhận, Thanh Tùng có những câu thơ thật thi sĩ, đọc một lần thì ám ảnh khôn nguôi - nhạc sĩ Phú Quang.

YBOOK.vn


    Hiện tại chưa có thảo luận nào về vấn đề này.
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
  • CÁC TIN BÀI KHÁC
  • Con trai ông Trump ra sách bảo vệ cha

    Con trai ông Trump ra sách bảo vệ cha (06/11/2019)

    D. Kim Thoa | TUOITRE.VN

    Cuốn sách dày 300 trang của Donald Trump Jr. (người con trai lớn nhất của ông Trump) vừa có mặt trên các kệ sách ở Manhattan với một phần lớn nội dung khiêu khích nhằm vào các đối thủ chính trị của cha mình.

  • Giám khảo Nguyễn Ngọc Tư trao giải truyện ngắn về phụ nữ

    Giám khảo Nguyễn Ngọc Tư trao giải truyện ngắn về phụ nữ (22/10/2019)

    Lam Điền | TUOITRE.VN

    Truyện ngắn Tràng phan của tác giả mới toanh Tống Phước Bảo vừa vượt qua 1.419 truyện ngắn và đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác về phụ nữ với chủ đề "Một nửa làm đầy thế giới", do NXB Văn Hóa Văn Nghệ phát động từ tháng 12-2018.