GIỚI THIỆU SÁCH

  • Di cảo Lưu Quang Vũ Lưu Khánh Thơ Những trang nhật ký mơ mộng, lãng mạn đến những bài thơ xé rách đầy dằn vặt, đau xót tuyển từ di cảo của nhà thơ - nhà viết kịch Lưu Quang Vũ do PGS.TS Lưu Khánh Thơ biên soạn và tuyển chọn.
    ...
  • Về miền Ví dặm cùng em Cẩm Thạch "Thơ chị Cẩm Thạch không nhiều biến hóa, không phức tạp, và thi pháp theo lối thơ truyền thống. Nổi bật lên trong thơ chị là chất tâm tình, chia sẻ, với một giọng điệu ngợi ca hồn nhiên. Về ngôn ngữ thơ Cẩm Thạch rất giàu tính ca từ. Đọc thơ Cẩm Thạch, người ta thấy chị cũng thường hướng tới chủ đề mang tính thời sự. Những sự kiện nóng bỏng của đất nước như "biển đảo dậy sóng", như "chất độc màu da cam" thường khiến chị day dứt, trở trăng mà viết thành thơ. Và với bài thơ thời sự nào chị cũng muốn gửi gắm lòng mình cùng quê hương xứ sở. Và đặc biệt, khi "Ví Dặm Nghệ Tĩnh" được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại, chị viết cả loạt bài về câu chuyện này. Mỗi bài một vẻ, nhưng tựu trung là ngợi ca "di sản" của quê hương. Ai mang câu Ví dặmTrải đồng xanh mơ màngCon đường quê rợp bóngNgẩn ngơ ánh trăng vàngXanh xanh bãi ngô nonNeo lòng người xa xứƠi miền quê nghèo khó,Nơi cát bạc gió Lào Và cuối cùng là lời mời chân thành và tha thiết với mọi người: Về miền Ví dặm cùng em." Nghệ An, 06/08/2017 Nguyễn Trọng Tạo
    ...
  • Tiếng cười thơm sân trường Cẩm Thạch Tập thơ gồm hơn 50 bài của nhà thơ, nhà giáo Cẩm Thạch.
    ...
  • Dấu chân còn ấm hơi Người... Cẩm Thạch Dấu chân còn ấm hơi Người gồm 33 bài thơ của tác giả Cẩm Thạch. Tập thơ ra đời nhân 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. MỤC LỤC Cung đàn tính Núi rừng thương nhớ Bác Đêm bên lăng Bác Con vẽ hình của Bác Phan Thiết đợi Người Nôn nao mùa thu Dâng Bác Ấm mãi tình Cha Về quê Bác Tượng đài trong lòng Mường xa con đã về bên Bác Hồ Bộ đội Cụ Hồ Quê hương đón Bác Tết Lào trên quê hương Bác ...
    ...
  • Nỗi niềm Sao Mai Tâm tình với mọi người bằng thơ là sự chấp nhận từ một trạng thái tâm lý có khi buồn, vui – Khi thả lõng như mây phiêu bạt hoặc siết chặt đến đau đớn nghẹn ngào. Tôi bắt gặp tâm tình của nhà thơ Sao Mai qua các bài thơ tràn ngập cảm xúc, trên hành trình nhân sinh đầy thú vị:Từ Cần thơ chiều: Tôi chợt lẻ loi như khách lạ bên đườngNgơ ngẩn giữa hoàng hôn như lạc nguồn sữa mẹTôi già tự bao giờ mà Cần Thơ vẫn trẻVẫn chung tình đợi chiều xuống trăng lên! Nhà thơ bắt đầu một chuyến đi trong tất tả Nhịp đời: Chỉ mỗi hàng cây với mỗi tôiVới dòng sông lạnh với đơn côiVới câu hò lửng buồn như khócVới mái chèo thưa khuấy nhịp đời! Chưa ra khỏi vòm cây, bóng lá in đậm sắc chiều, lòng người ly hương như bồi hồi, tiếc nuối một quá khứ tự tại, nhẹ một nỗi hờn trách mà chẳng cần ai biết, ai hay, nên đành Gửi nắng qua sông: Chiều em gửi nắng qua sôngLá tình thắm nhớ nhuộm lòng bay theoChiều nay nỗi nhớ trong veoLồng phiên ảnh thuở lội đèo trèo sôngChiều nay sóng rát bến mongDập duềnh chiếc lá nẩy lòng nhớ ai! ... Tập thơ Nỗi niềm với 65 bài dài, ngắn qua các thể loại và phong cách, khó giới thiệu hết được trong một khuôn khổ nhất định, nhưng tin rằng: không phải một tuyển tập này thôi, chắc chắn còn bắt gặp Sao Mai trong nhiều thi phẩm nữa. Với dòng chảy này, Sao Mai sẽ từng bước đạt được ước mơ: làm thơ là vắt sữa cho đời. Đông NguyênHội viên Hội nhà văn TPHCM
    ...
  • Lục bát ru em Lam Giang Gần 50 bài thơ với độc nhất thể loại lục bát, tác giả Lam Giang ghi lại tâm tư, cảm xúc của mình qua những nơi chốn đặt chân đến, một "Đêm mưa Hà Nội", "Một sáng sông Tiền", "Một lần phố cổ", rồi "Thung lũng Tình Yêu", "Tuyền Lâm", "Tháp Bà", "Nha Trang có biển", v.v.. qua những cỏ cây hoa lá "Bất chợt hoa xoan", "Gặp lại hoa đào" hay chỉ là một "Cuối chiều" vẻn vẹn với 6 câu: Cuối chiều ngày hết rồi emKhép căn phòng lại, đi tìm nàng thơTặng mình một thoáng vu vơTặng em chắc cũng hững hờ phôi phaiThôi thì gửi tặng gió mâyCho mình còn một chút say với nhiều. Mỗi bài những đề tài khác nhau, nhưng một điểm chung là sự xuất hiện của nhân vật "em" trong hầu hết tất cả tác phẩm. Dường như đó là nguồn cơn, là cảm hứng và cũng là người mà Lam Giang muốn gửi gắm những vần thơ... Lục bát ru em! MỤC LỤC Đêm mưa Hà Nội Bất chợt hoa xoan Chiều ba mươi Viếng chùa Gặp lại hoa đào Ghé thăm mình Trong thung lũng Tình Yêu Tuyền Lâm Tháp Bà Nha Trang có biển Với hòn Chồng Một lần phố cổ Cần Thơ Đêm Rạch Giá Biển ru Một sáng sông Tiền ...
    ...
  • Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ Phạm Sỹ Sáu Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu.[...] Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh.[...] Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Đoạn rời ở suối Thmey Từ một tin đồn Mắc võng trong rừng le Ghi thư trên đường hành quân Trận địa Thôpjăng Run sống và chiến đấu Đêm trăng trên chốt 4 Ở điểm cao 194 (chốt 2) Đêm trăng ở rừng dầu Kratie Đêm giao thừa ở biên giới Tây K Lục bát Palin Hành quân về Amleng Chiều mưa Poi Pet ...
    ...
  • Điểm danh đồng đội Phạm Sỹ Sáu Hãy sắp hàng vào cho tao điểm danhNhững thằng lính ở miền xa rất trẻHãy sắp hàng vào để nghe tao kểChuyện đánh nhau và chuyện... yêu nhauA! Có thằng nào còn mang băng trắng trên đầuTiến một bước, nếu thấy còn chỗ trốngĐừng băn khoăn nếu có thằng hy sinh và thằng...chạy trốnCòn lại tụi mình thì vẫn cứ thương nhauHãy vì nhau mà đừng để lòng sầuBởi cái chết chẳng thể nào tự đến.... Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. ...Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh... Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn   MỤC LỤC Bài hành tráng sĩ mới Nghe chim "bắt cô trói cột" giữa rừng Mê-lai Buổi sáng Không chỉ là mặt trận Thơ viết ở Âm-pin Bà má Miền Tây Trăng giữa rừng Ở phương nầy Tiễn đưa Với miền Tây Bắc-xa Chia tay đồng đội Nợ Kỷ niệm xôn xao Trong vườn xoài Pre-nét Pre Mùa mưa đời lính đi qua Theo mùa xuân vào Pai-lin Tiếng tắc kè Trước đền Ăng-co ...
    ...
  • Ra đi từ thành phố Phạm Sỹ Sáu Ra đi từ thành phố đạt giải nhất thơ Cuộc vận động sáng tác Văn Học kỷ niệm 40 năm thành lập nước do Hội Nhà Văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức năm 1986. Tập thơ ngoài bản trường ca mà tác giả lấy tên đặt cho cả tập còn có 5 bài thơ khác nữa. Tuy nhiên, có thể xem các bài thơ ấy là sự bổ sung, sự tiếp nối bản trường ca vốn mang nhiều tâm huyết của anh. Phạm Sỹ Sáu dành vị trí danh dự cho bản trường ca Ra đi từ thành phố. Trường ca là thể tài được nhiều nhà thơ sử dụng khi cần thể hiện cảm hứng công dân trong một dung lượng lớn mà một vài bài thơ không chứa nổi. Cho đến giờ, ở ta, ít có những trường ca thuần khiết. Đó là lý do trường ca trên thực thế được coi là trường thi (thơ dài). Nói thế để thấy rõ vai trò đặc biệt của chất trữ tình trong cái gọi là trường ca ở ta. Trong trường ca có kể, có tả song câu chuyện và hình ảnh phải thấm đậm cảm xúc, suy tư. Tiếc là chất trữ tình trong nhiều đoạn của tập thơ chưa thật tương xứng. Đôi đoạn còn sa vào kể lể dài dòng. Bản trường ca chưa gây được ấn tượng thật mạnh, thật sâu là vì thế. Giá có nhiều đoạn như đoạn sau thì sự thể có lẽ sẽ khác: Nhận đồng hương chút cho vuiNghe em nói, thấy em cười, thế thôiTrao kỷ vật dưới chân đồiNụ hoa tím nói thay lời... chia tay Mỗi câu, mỗi từ đều nồng ấm cảm nghĩ. Chính cái chất trữ tình này đã làm say cuốn người đọc trường ca. Cũng cần đòi hỏi cao hơn sự tinh luyện của câu chữ. Chớ nên để tồn tại những câu thơ thiếu sức ngân vang như câu này: Chưa biết hoa gì có làn hương thoảng qua từng chặphương thoảng qua mà xốn xang trong lòng Cũng chớ nên để ngôn từ thành hàng rào ngăn chắn cảm xúc của người đọc như từ "tao ngộ" trong trường hợp sau:lần đầu tiên chúng tôi bị độngtrước kẻ địch lẩn nhanh như sócchút tao ngộ cho chúng tôi bài học Những hạt sạn như thế không nhiều, song không phải là không đáng nói, nhất là với những cây bút có nghề. Dẫu sao Ra đi từ thành phố cũng là một đóng góp qúy giá của Phạm Sỹ Sáu vào dòng thơ viết về chiến tranh và người lính. Tác giả đã chọn cho mình một giọng điệu riêng khá thích hợp nhằm dựng lại chân dung tinh thần của người cầm súng trong cuộc chiến mới của dân tộc mà cho đến giờ còn ít được thể hiện trong thơ. Những cơn mưa đi vào lòng thành lửaCháy không nguôi những kỷ niệm chiến trường Xin cảm ơn ngọn lửa trong thơ anh đã góp phần thắp lên ngọn lửa trong lòng bạn đọc chúng ta. Người lính "Ra đi từ thành phố", Đà Lạt, 21-6-1995   MỤC LỤC Ra đi từ thành phố (Trường Ca) Chiến sĩ mới Đến với biên giới miền Đông Nhìn lại Kỷ niệm về những con người Kỷ niệm về những địa danh Hành tráng sĩ mới Tiễn đưa Cảm xúc trước một tượng Bay-on không nguyên vẹn Mùa mưa đời lính đi qua Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ
    ...
  • Thơ với tuổi thơ Phạm Sỹ Sáu Tráng sĩ không bơi qua sôngTráng sĩ đi bằng đường khôngTráng sĩ đi bằng xe kháchTráng sĩ lên đường lòng hề mênh mông, mênh mông Không là Kinh Kha ngày xưa qua sông DịchKhông là thở than của khúc Tống biệt hànhTráng sĩ chừ qua sông, qua sôngSống vỗ mạn phà hề sóng vỗ Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử. Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khu biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. Trong một lần lên điểm tựa Chi Ma (Lạng Sơn) đọc thơ, Phạm Sỹ Sáu thông cảm với những gian nan dường như là số phận của đời lính ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời nào: Mười năm chiến trường trộn vào câu chuyệnHòa lẫn tiếng lòng nỗi nhớ tình yêuLính biên giới hướng nào gian khó cũng nhiềuCũng thừa muối thiếu rau những bữa cơm điểm tựa. Nhưng phải chăng lính tình nguyện ở Campuchia thiệt thòi, vất vả hơn? Các anh ở đây có thông làm chỗ tựaCó câu hát sli lượn như sóng Kỳ CùngCác anh ở đây có dân bản Tày NùngCó tiếng Việt kết câu bằng chữ vớ. Kết bằng chữ gì thì vẫn cứ là tiếng Việt, để người cầm súng yên tâm rằng mình đương được Đất Mẹ chở che Các anh hạ sơn gặp con suối cạn/ Có hoa sim tím, có trẩu, có mua/ Gặp cơn gió lùa nhanh qua hẻm núi/ Gặp hương đất nước trong bài dân ca. Bài thơ viết năm 1987. Từ biên giới Lạng Sơn "Trở lại Tây Bắc K", tiếp tục những ngày chiến trận bên ngoài biên giới Tổ quốc, tâm hồn Phạm Sỹ Sáu như trĩu nặng thêm Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn bao nhiêu thằng nằm lại/ Mà vinh quang - chùm con chữ dư thừa. Một cái chép miệng chua chát đôi khi trở thành giận dữ trước bao điều ngang tai trái mắt của thời kì "tranh tối tranh sáng" mà người lính dù ở xa ngàn dặm vẫn phải gánh chịu, không thể dửng dưng. Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn cứ đêm ngày trăn trở/ Về sự hy sinh/ Về tốc độ mất giá của đồng tiền/ Về những điều thiêng liêng và đốn mạt/ Chiến tranh đâu phải là canh bạc/ Mà người lính nào cũng tin vào hên xui. Đến những bài thơ viết cuối thập niên 80, Phạm Sỹ Sáu đã vượt qua sự hồn nhiên, kể lể để đi dần đến những kết tinh có tính khái quát, mang nặng suy tưởng, chiêm nghiệm. "Thơ tặng chiến sĩ vô danh" viết sau ngày bộ đội tình nguyện Việt Nam hoàn thành lộ trình rút quân khỏi Campuchia là một bài thơ hay, đa nghĩa. Có một chút hờn dỗi trong những câu này Cuộc chiến tranh đã đi qua/ Sau những hội hè lễ đón/ Thiên hạ cứ yên tâm đã làm trọn/ Những gì cần làm đối với người lính tình nguyện Việt Nam. Nhưng nhiều hơn những chống chếnh, lo lắng mơ hồ, tưởng như vô lí nhưng rất thành thực, chỉ những ai từng đi qua chiến tranh mới cảm nhận được. Nhà thơ nói về những người đã ngã xuống hay nói về chính thân phận những người lính hậu chiến? Không có chiến tranh/ Không có quân tình nguyện/ Mỗi mình anh trò chuyện/ Cùng đêm và ngày nơi xa.../ Tổ quốc cũng là anh/ Người lính độc hành trong từng hơi thở/ Đêm và ngày không tỏ/ Anh - một mình/ hy sinh/ Không đồng đội - không bạn bè/ Anh một mình cùng tiếng nói/ Nghe từ xa, rất xa. Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh. Ở chặng thơ đầu thập kỷ tám mươi, bài thơ sẽ còn được in lại dài dài là "Bài hành tráng sĩ mới", một thành công đột xuất giữa rất nhiều bài bình thường trong tập thơ dày tới hơn hai trăm trang "Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ". Nhà thơ, nhà phê bình văn học Hoài Anh coi đây là bài thơ "nhại" lại Tống biệt hành nổi tiếng của Thâm Tâm bằng cách "đối chiếu với các hoàn cảnh thường ngày và lịch sử của nó". Thời chống Mỹ, trong những bài thơ đầu đời lính, Thanh Thảo đã làm điều đó trong "Bài ca ống cóng". Những tráng ca thuở trước/ Còn hát trong sách tôi/ Những thanh gươm yên ngựa/ Giờ đã cũ mèm rồi/ Bài ca của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời... Sự lặp lại thủ pháp này của hai thế hệ thơ cách nhau mười năm một phần là do sự trùng hợp của hoàn cảnh và tâm trạng: những thanh niên có học, khi đối diện với thực tế trần trụi của chiến trường đã tự rũ bỏ những ảo tưởng hiệp sĩ nhiễm từ lớp lớp trang thơ cổ. Chiến tranh không phải trò đùa, càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải được khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22/1/2005 Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Lời giới thiệu Trăng thượng tuần ở Poi Pét Ca-chiu-sa giữa rừng Chia tay cửa rừng Kỷ niệm xôn xao Điều bất thường bình thường Gởi bạn bè chiến trường ở Âm-pin Đọc thơ ở điểm tựa Chi Ma Trở lại Tây Bắc K Thơ tặng chiến sĩ vô danh Lính rừng sâu Cũng đành Ở phương này Tiếng tắc kè Gửi bạn bè làm xong nghĩa vụ Bài hành tráng sĩ mới Bài thơ xanh Tự thú trước đền Angkor Một chút ngày Giêng
    ...
  • Khúc ca đồng đội Phạm Sỹ Sáu Khúc ca đồng đội xuất bản lần này như một lời tri ân, như một niềm hồi tưởng dẫu có muộn màng. Chiến tranh biên giới Tây Nam đã bước vào kỷ niệm tuổi 30 mà gương mặt đồng đội ngày xưa qua điểm danh sao vẫn còn thiếu vắng. Xin bắt đầu chiến dịch mới - chiến dịch thăm lại chiến trường xưa - bằng khúc ca của những ngày gian khó. Hy vọng Khúc ca đồng đội sẽ là món quà nhỏ trong hành trang trở lại nơi bắt đầu hoặc bắt đầu từ một nơi sẽ trở lại – Campuchia. Sau ngày 26.09.1989 – ngày người lính tình nguyện Việt Nam cuối cùng rời khỏi Campuchia trở về Tổ quốc, tôi may mắn có được ba lần trở lại đất nước Ăng ko - một lần bằng đường không và hai lần bằng đường bộ. Từ trên máy bay nhìn xuống hay từ mặt đất nhìn ngang, ở đâu tôi cũng bắt gặp những hình ảnh thân thương, tường chừng như máu thịt. Những dòng sông con suối, những cánh rừng phum làng, những ngọn núi cánh đồng - tất cả thật thân quen, thật gần gũi. Sự xa cách về địa lý chính trị dường như không còn nữa khi tôi có dịp đi qua những phum làng một thời chưa xa tôi và đồng đội đã có dịp đặt chân qua. Một thời tuổi trẻ chúng tôi đã chen vai sát cánh cùng quân và dân Campuchia bảo vệ cuộc sống yên bình trong phấp phỏng chiến tranh và bất an rình rập. Một thời mà mỗi bước tiến công là những hy sinh mất mát, nhiều đớn đau lo âu. Giờ đây có dịp trở lại những vùng đất của một thời trong khung cảnh hòa bình thật sự, bên cạnh những người-còn-lại-may-mắn cùng gia đình, tôi mới cảm nhận đầy đủ giá trị của những năm tháng chiến đấu giữ nước từ xa và giúp bạn là tự giúp mình. Mỗi chặng đường qua, mỗi ngày vừa tới trên hành trình trở lại, tôi cảm nhận đầy đủ hơn tiếng gọi bạn bè. Trong mênh mông đồng lúa, trong nhộn nhịp phố thị, trong tĩnh lặng phum xa, trong uy nghiêm đền tích... đâu đâu tôi cũng cảm nhận những ánh mắt trìu mến thân thương của những đồng đội đã khuất của mình. Phạm Sỹ SáuĐầu mùa mưa 2008
    ...
  • Thơ trong sổ tay bạn trẻ Trần Đồng Minh Cái ngày cô chưa có chồngĐường gần tôi cứ đi vòng cho xaLối này lắm bưởi nhiều hoa...(Đi vòng để được qua nhà đấy thôi).Một hôm thấy cô cười cườiTôi yêu yêu quá nhưng hơi mất lòngBiết đâu rồi chả nói chòng:"Làng mình khối đưa phải lòng mình đây!"Một năm đến lắm là ngàyMùa thu mùa cốm vào ngay mùa hồngTừ ngày cô đi lấy chồngGớm sao có một quãng đồng mà xa.Bờ rào cây bưởi không hoaQua bên nhà thấy bên nhà vắng teoLợn không nuôi, đặc ao bèoGiầu không dây chẳng buồn leo vào giànGiếng thơi mưa ngập nước trànBa gian đầy cả ba gian nắng chiều Qua nhà - Nguyễn Bính Trước mặt bạn, trong tay bạn là những bài thơ tuổi xanh yêu thích. Một số bạn yêu thơ, làm thơ và nhiều học sinh lớp chuyên trường PTTH Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa (TP. Hồ Chí Minh) đã nhiệt tình góp nhặt. Không ít bạn chép kín năm, bảy trang thơ hằng ấp ủ. Có những bạn nêu ra đôi, ba bài đặc sắc bất ngờ. Vui mừng biết bao, truyền thống thơ của nước nhà vẫn chảy mạnh trong tâm hồn trẻ. 91 áng thơ chưa thể tập hợp hết lời ca, tiếng nói trái tim đã ngân rung bao đời nay. Có lẽ xin hẹn ở các tập tuyển tiếp. Ở đây là những bài thơ được các bạn trẻ yêu thích sưu tầm và tập hợp lại. Nhiều tác giả trẻ, họ mới cầm bút nhưng được đông đảo bạn đọc yêu mến.
    ...
  • Xôn xao đầu hạ Trần Thanh Chương Hành quân qua đỉnh đèo NgangPhút giây bỗng thấy mơ màng cõi tiênGiơ tay với áng mây mềmBước chân xen tiếng êm đềm sóng khơiLâng lâng cánh gió ru hờiNơi đây Non - Nước - Biển - Trời gặp nhau...Khuất xa đèo tự lúc nàoVẫn còn tiếc giấc chiêm bao đỉnh đèo. Trích "Một thoáng đèo Ngang" - Xôn xao đầu hạ Cuộc sống sôi động của người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã làm người bác sĩ quân y Trần Thanh Chương có nhiều rung cảm, nhiều trải nghiệm đáng quý. Chất lính, chất tình hài hòa, bay bỗng, quyện với chất triết luận sâu sắc tạo cho thơ Trần Thanh Chương vừa hiện thực, vừa lãng mạn, rất đời thường mà vẫn gợi mở nhiều tình ý sâu xa. 42 bài thơ được viết trong khoảng thời gian từ 1971 - 2007, là những giãi bày, những niềm vui, nỗi buồn, niềm hy vọng, sự khát khao vẻ đẹp của con người và cuộc sống. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Xôn xao đầu hạ - Tập thơ đầu tay của bác sĩ Trần Thanh Chương - một người nặng tình với thơ. MỤC LỤC Ước Một thoáng đèo Ngang Tết Lời ru vùng ven Giấc ngủ ở hầm chữ A Tưởng chiêm bao Hoa khế Sông Yên Đợi Gió ru Lên Tây Bắc Ngu ngơ Nghiêng Thử thách Lãng mạn Lục bát lời ru Lặng lẽ phù sa Cảm xúc Di Linh Em gì ơi! Tâm sự nghề y Giữa phố Sài Gòn Vào Phương Nam Một góc Điện Biên Nắng Cần Thơ Vũng Tàu ...  
    ...
  • Chia tay cửa rừng Phạm Sỹ Sáu Chia tay cửa rừng là tập thơ của Phạm Sỹ Sáu gồm hầu hết những sáng tác đã viết trong thời gian tác giả là người lính chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Một ít bài được viết trong thời gian đi thực tập ở biên giới phía Bắc năm 1986-1987. Có thể nói đây là bộ sưu tập những bài thơ nổi tiếng của Phạm Sỹ Sáu đã từng được công bố trên các phương tiện truyền thông, tạo nên mối cảm thông sâu sắc với người hậu phương trong giai đoạn đất nước vừa có hòa bình lại vừa có chiến tranh. Đây là tập thơ được trao Giải B viết về đề tài Lực lượng Vũ trang nhân dân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam giai đoạn 1999-2004, Giải thưởng Văn học Sông Mêng lần thứ 2 tại Phnom Penh, CPC năm 2009. Bản xuất bản lần này có chỉnh sửa và bổ sung cho đúng những địa danh thực tế.
    ...
  • Khi ta còn có trái tim Trương Tâm Trong Khi ta còn có trái tim có những bài thơ Trương Tâm viết về các sự kiện chính trị gần đây: từ tình hình Nước Nga hậu Xô Viết, ông Putin được bầu làm tổng thống đến vụ ám sát bà Benazir Bhutto hay cuộc chiến kéo dài ở Palestine khiến những con người mất nước phải chui rúc trong những tổ rơm. Có những bài thơ lại là lời nhắn gửi của tác giả đến với những con người xung quanh: từ đứa con gái thân yêu đang "học tập" ở "trường đời" đến những đứa cháu được sinh ra trong hòa bình; cho đến những người bạn học thân thiết, những người đã từng cùng ông chiến đấu, những người đã yên nghỉ, những cô bé, cậu bé, chị, anh, em ông tình cờ gặp trên đường,.. Và cũng có những bài thơ là sự kết hợp giữa tinh thần Phật giáo với văn hóa nhân loại. Với tập thơ Khi ta còn có trái tim, Trương Tâm đã phục hoạt những giá trị tâm linh và định hình những cảm xúc có tính lịch sử của con người trong cuộc sống trên cả ba bình diện: cá nhân, dân tộc và toàn cầu. MỤC LỤC Cùng một tác giảLời mở đầuLời cảm ơn đặc biệtPhần 1 - Cho hoa sen nở giữa trái tim người Vấn nạn 1: Trần thế hay Niết bàn Giảng đường, giờ giới nghiêm 1963 Lửa Bồ Tát Tiếng chuông chùa Theo mẹ lên chùa Dâng hoa cúng Phật Ngày tắm Phật Công án Phật Biện chứng Kim Cương Nằm mơ nghe Phật thuyết pháp Hoa vô thường Khi ta còn có trái tim Chào em chân tánh đóa sen hồng Ngọn lửa hồng tôi sẽ đốt Tôi, tình yêu và lộ trình đi về cõi chết Tôi là một hạt bụi Đi tìm Thượng Đế Vịnh bức tranh cây bách do Minh Châu vẽ Tự tình 74 Tử sinh Phục sinh Vô thường, viết cho bạn bè đã chết Đêm thiền Phần 2 - Tâm thức dân tộc Vấn nạn 2: Tồn tại hay hủy diệt Tuyên ngôn độc lập Cô du kích Củ Chi Hát giữa biển, trời Nói với các cháu Đọa đầy Con đi học ngày đất nước đổi thay Đưa con về thăm quê nội Ngày đầu tiên đứng lớp Cảm nghĩ nhân ngày gặp bạn ở quê người Lâm, hãy yên nghỉ Khóc bạn Tưởng nhớ Trịnh Công Sơn Tiên ông xuống đời Tôi đi tìm lại hồn dân tộc Phần 3 - Tâm thức toàn cầu Vấn nạn 3: Toàn cầu hóa hay thống trị Thơ như niềm công phẫn lịch sử Biển, trời của ai Cảm xúc biển Thư gửi người con gái Palestine Đen và trắng Cảm thông về cái chết của bà Benazir Bhutto Aung San Suu Kyi, người đàn bà đứng sau khung của trại giam Về nước Nga hậu Xô Viết
    ...
  • Vườn mộng Thanh Yến Nữ thi sĩ Thanh Yến thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau năm 1975. Tuy sinh sau đẻ muộn nhưng với khát vọng và sự sáng tạo bền bỉ âm thầm, Thanh Yến đã làm nên tên tuổi của mình trên thi đàn Việt Nam với nhiều tập thơ có giá trị như: Miền trăng lạ, Khoảng khắc vườn thu, đặc biệt hơn cả là tập thơ Vườn Mộng. Thơ cô là những con chữ mượt mà, mang nặng một nỗi niềm day dứt, giàu chất suy tư và trải nghiệm với đời như thế này: Thôi thế từ nay trót lỡ làng Tình mình hẹn lại đến mùa sang Dấu kín vào thơ dòng tâm sự Giận người em giận cả thời gian (trích Giận người giận cả thời gian) Đâu đó còn mấy bài thơ cô viết tặng người con trai tài hoa nhưng yểu mệnh của mình với trái tim bao la của người mẹ. Với những ngày tưởng như êm ả Lại là tột đỉnh của đau thương Căn phòng bệnh lên màu trắng xóa Còn thều thào dư ngữ lúc lâm chung "Nhớ em, thương cha, nát lòng đau nghĩa mẹ" Đôi tay này mẹ bất lực nhìn con! (trích Xa con mãi mãi) Vào Vườn Mộng xin bạn nghĩ thật khẽ, để nghiệm ra những âm thanh dịu nhẹ của một cõi thi ca...  
    ...
  • Có hai dòng văn chương Hải Như Sách gồm hai phần. Phần một: Thơ; Phần hai: Tản văn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
    ...
  • Làng ta

'Sự mất ngủ của lửa' cháy bùng sau 23 năm  


Theo như tôi được biết, hình như, cô không có làm. Cô chơi không à! Từ hồi giờ chứ không phải mới đây. Hồi chồng còn, thôi có ổng lo đủ: nhà ở, áo mặc, cơm ăn, tiền ăn chơi và đánh bài. Chồng mất nhiều người cùng lo nên cũng không thiếu thốn gì. Nhiều người ở đây, là: con cháu, họ hàng, chòm xóm, bạn bè... Nhiều người lo ớn, bỏ, đã có chú Hai xáp vô. Chú Hai là bạn trai của cô mà. Vậy mới nghiệt chứ! Tre trẻ có bạn trai nói gì. Đây cỡ bà cô tôi mà có được ông bồ phong độ vậy, sao không mất hồn? Ai mất hồn người nấy ráng chịu. Chú Hai vẫn tiếp tục yêu cô và tình cảm của hai người tính tháng tính ngày sao cho đủ? Vì già cả yếu đuối mà sức dai và tim mạnh dữ lắm, bởi không vậy, sao dám yêu một cuộc có trên chục năm trời. Nghĩ chú Hai thương cô chi mà đầy mà đọa rồi ghen chi mà ghen chưng hửng, giảo banh. Phải cô hoa hậu hoa khôi, mướt mát, sang trọng ra dáng bà dáng chủ. Đây cô khô rang, nhỏ thó và lớn hơn chú tới mấy tuổi. Và chú, hồi cặp cô mới trên sáu chục cái xuân xanh. Khác với bà cô tôi, chú có một gia đình rất mực đàng hoàng với nhà cửa cơ ngơi hẳn hoi, vợ con cháu chắt đề huề. Vợ chú Hai đẫy đà phúc hậu rất xứng đôi cùng chồng. Có đâu như cô! Má chồng tôi có lần nói: đàn ông cỡ đó nhằm nhò gì. Có con còn được, nữa là. Chứ đàn bà hết xí quách rồi. Trúng cô Mai lũ bay thì có hơn gì cái xác ve. Chồng tôi trửng giỡn: biết đâu ông Hai lại ghiền kiểu vậy? Cô có tấm hình chụp hồi trên dưới ba mươi. Điệu chết luôn! Hình màu nghen, mà hồi đó là màu tô, thấy không thật. Đâu có đẹp được như bây giờ. Cô che dù, mặc áo dài thêu đầy lá xanh bông đỏ, tóc phi-dê tân thời, cổ đeo kiềng vàng chóe mà chân mang đôi hài có rồng bay phượng múa. Không biết cô có tô mắt, vẽ mặt kỹ tới vậy không hay do ở tiệm ảnh sơn phết búa xua khiến cô y hệt đào hát. Vậy mà chú Hai thích cái hình này dữ lắm. Chú Hai trầm trồ: Bả ngon cơm quá chứ bay? Tướng ra nghệ sĩ. Ra dân chơi. Tức cái mình là không biết ca vọng cổ chứ ca hay nữa, ai chịu nổi. Mà cũng may! Bả được vậy cứ trên trời ngó chứ thèm chi cái thằng Hai này. Chú nói vậy là do nhìn phía trước và đối diện với chân dung cô. Chứ nhìn hàng chữ đề tặng phía sau xúc động quá, nghẹn! Cô biết viết nhưng chữ như gà bới nên mới nhờ tới tôi. Có bấy nhiêu đó thôi mà cô cháu cũng lời qua tiếng lại. Cô muốn lời tặng phải cho thiệt nồng thắm thiết tha. Tỷ như để suốt đời anh được ấp ủ hình bóng em. Tỷ như để lỡ mai này anh có lỡ xuống tuyền đài em được theo gót chân anh… Tôi thấy viết vậy sao kỳ kỳ. Nói cô có muốn thì viết. Con dị lắm không làm đâu. Cô nạt: Vậy chứ mày đòi viết sao, hử? Tôi nói chắc nụi: Tặng anh. Cô trừng mắt: Viết vậy thôi tình cảm gì? Trụi lủi, trọc lóc tao đọc đã muốn xịt chó cắn, huống gì… Cãi qua cãi lại đã đời hai cô cháu mới đồng ý, là: “Thương tặng anh để lưu luyến những ngày bên nhau”. Đâu ngờ quãng thời gian lưu luyến của hai người, tôi vừa được mà vừa bị chứng kiến hơi nhiều nhiều. Hai Ngoài thời gian ngồi sòng, cô không ở yên một chỗ được. Lẹt xẹt đi tối ngày. Rất khó để kiếm ra cô, vậy mà y như có thần giao cách cảm, cô ở đâu, làm gì, chú Hai ổng biết hết và khác khác một chút là gặng hỏi, tra nẹt cho ra mới thôi! Đã nói chú Hai ghen dữ dằn, ác ôn lắm mà! Cô ưa đâu ngủ đó. La cà ớn rồi tấp đại vô nhà người quen đánh một giấc cỡ năm giờ, trở dậy ngồi hút vài ba điếu thuốc rồi mò ra cái quán quen kiếm ly cà phê và bắt đầu cho một ngày mới. Tối đó cô có ghé nhà gặp lúc mọi người đang ăn cơm, mời, cô dụi tàn thuốc dòm sát mâm hỏi: “Ăn gì vậy?”. Má tôi nói canh cá nục lá giang món em ưa đó. Cô cười cười tự đi lấy đũa, bới lưng lửng chén rồi chan mấy muỗng canh, lùa vài miếng là rồi. Cô ra sau súc miệng nói vọng vô: “Đứa nào còn thuốc cho điếu?”. Tôi rửa chén xong ra phía trước thấy cô ngồi chồm hổm trên hè, đóm lửa liên tục đỏ rực trên môi ra kiểu nôn nóng vội hỏi: “Cô chờ chú Hai?”. Cô làm thinh cả đỗi mới cất giọng nhừa nhựa: “Chi?”. Tiếp đó, hết cô tới chú thay phiên nhau giành chỗ nơi khoảng sân phía trước nhà tôi. Không giành cho cả hai mà giành cho có mỗi một người. Mới tội chứ! Bởi có cô không chú. Có chú không cô. Hai người lục sạo suốt tối đó. Y hình như cô là người lủi trốn mà chú lại là người kiếm tìm. Bởi, thấy bóng chú là cô biến mất. Hết thấy lại quay về. Khuôn mặt của cả hai căng thẳng, nhăn nhúm… thể hiện tâm trạng thấp thỏm lo lắng và cực kỳ khốn khổ. Suốt mấy tiếng đồng hồ liền, hai người như lời một bài hát tôi thuộc nằm lòng “… Tình yêu anh ơi cút bắt trò chơi. Em sẽ trốn khi anh đuổi tìm…”. Đâu cũng gần mười giờ đêm, lúc tôi đang ngồi trong nhà coi ti vi thì nghe tiếng chú kêu. Giọng gấp rút và giật cục khiến tôi phải lật đật chạy ra, mới liếc dòm tướng chú là tôi bắt sảng hồn. Chứ công chuyện gì của hai người mà ngó chú thất thểu bắt ghê! Vừa thấy tôi, chú hỏi liền: - Chứ bả đâu? Con nói thiệt đi. Mày giấu cô mày ở đâu, hử? - Mắc gì con giấu? - Mày sợ tao giết bả. - Mà… Bình tĩnh đi chú! Có chuyện gì gặp cô rồi hai người giải quyết. Chứ… - Bả lăng nhăng vậy để chi mà không bụp cho rồi. - Mà cổ lăng nhăng với ai? - Với cái thằng già dịch thầu khoán. Thằng… Tao không biết tên. Chỉ hay con vợ nó thứ sáu. Có sạp trái cây ở chợ Lớn. - Trời ơi! Tưởng gì? Mông lung trời đất vậy mà hơi nào chú để ý chi cho mệt? - Tao tìm hiểu rõ ràng sít sao, vậy mà mày biểu mông lung trời đất? Con tưởng nẫu mới tình ý đây, hé? Lâu hung rồi. Thằng đó làm thầu khoán thiếu gì tiền. Cho bả ngợp mặt ngợp mày cái ham chứ sao! Không xong với tao được đâu. Bả vọc giỡn trái tim tao thì tao cũng chà nát cái thân bả ra tanh bành. Mới hả… Chú hăm he đã rồi bươn bả bỏ đi. Dòm chân bước biết ngay là chú rất giận và sẵn sàng “bụp”, nếu gặp. Đêm đã khuya nhưng tôi ráng căng mắt thức. Cũng tính chờ cô để báo động tình hình nhưng thấy chú Hai, ổng cứ lượn qua lượn lại miết nên ớn. Vô nhà, đóng cửa ngủ cho yên. Trúng bữa đó, chồng tôi phải về quê chạp mả. Nằm một mình, thiếu hơi thấy mền chiếu rộng rinh thừa thãi, buồn ngủ rũ rượi mà cứ lăn qua trở lại miết, chứ không cách gì chợp mắt được. Giữa hồi chập chờn vậy, tôi láng máng nghe như có ai kêu tên mình. Giọng rất nhỏ. Đợi kêu cả đỗi, định thần, tôi mới rón rén ra mở cửa buồng và rất nhanh một cái bóng thấp tủn, lách vô. Thì ra là cô! Lên giường nghe kể, mới hay là chú Hai ổng còn lần quần phía trước. Sợ quá! Cô đâu dám về nhà. Núp mình trong con hẻm gần đó, muỗi đốt muốn chết mà mấy thằng bá vơ đái sém trúng mặt. Rình miết, thấy ổng lơ lơ cô mới dám chui đường luồn vô ngõ sau. Nhà tôi có cái luồng đó mới thiệt hay! Đúng ra, đó là chỗ thoát nước của mấy nhà gần kề. Nước lênh láng suốt ngày đêm nên dòm như con mương nhỏ, cũng may là con mương này có đáy trét xi măng, không sâu và sạch. Đầu mương để ngỏ không cửa nẻo mà cuối mương lại thông với gian bếp của nhà. Nên đêm hôm khuya khoắt, cửa trước lỡ có đóng mọi thành viên trong gia đình tôi đều có thể đi qua cái mương đó để vô. Êm ru mà khỏe re. Tôi hỏi thầm: - Mà có thiệt cô bồ ông thầu khoán có bà vợ thứ sáu bán trái cây? - Mày hơi nào mà nghe. Thì tao cũng có quen. Quen trong sòng. Tao thua đậm liên tiếp cả tuần. Tiền chú Hai cho đủ thiếu gì? Đang hồi đứt chếnh có người đưa tiền thì lấy. Lấy tiền nẫu thì cũng chả chớt anh anh em em… Thì cũng sao đó coi cho được. - Chẳng lý vậy mà chú Hai ghen lồng ghen lộn… - Ờ! Thì tao cũng có gác cái đùi lên cặp giò cha đó. Rồi chả cũng có ngắt véo chút chút. Cũng thường. Đâu mất mát gì! Chú Hai nghe ai méc không biết. Nổi cơn ghen quậy luôn chứ sao! - Con nghĩ. Cô cũng phải gặp chú Hai nói cho ổng hiểu chứ không… - Thì cũng chẫm thẳng. Ổng qua cơn đã chứ giờ há? Ổng vặn họng! Vặn họng đâu chưa thấy, cô nói chưa rồi câu, đèn buồng tôi bỗng bật sáng và tiếng chú Hai dõng dạc: “Bà Mai! Giở mùng, bước ra. Tui nói chuyện. Mau”. Cô đâu dám động cựa, im ru, xít người tận vô phía trong, cái bộ xác ve thêm sát rạt khi dán chặt mình lên chiếu. Tôi sợ điếng người nhưng vẫn lanh, kịp lấy mền trùm kín mít người cô. Tiếng chú gằn trong miệng: “Bà đừng bày đặt trốn trong đó. Tui theo rình thấy hết rồi nghen! Đừng bắt tui làm rộn nhà nẫu. Bước liền liền cho tui. Mau. Rồi ra đường cái cho tui nói chuyện”. Tôi đã ngồi bật dậy từ khi nãy nhưng run quá, không rời giường được. Cái chân lẩy bẩy mà cái mùng lướng vướng. Phải một chặp sau, tôi mới đứng đối diện với chú. Tôi không dám nhìn thẳng vô mắt ổng. Cô tôi mà chú còn đòi bụp, chà nát mình chắc gì tôi ổng tha? Cũng may chú làm thinh, nghiến răng qua lại… Trèo trẹo ớn rồi tới trin trít đã đời, mới chịu chỉa miệng vô mùng hỏi trỏng trỏng: “Vậy là bà quyết tâm cố thủ, phải không? Bà không thoát khỏi thằng này đâu nghen. Bà ngon trốn tui miết đi. Tui không xử bà trước cũng xử sau à!”. Nói rồi quay qua tôi hỏi trọn lỏn: “Mày cháu dâu bả vậy cháu dâu tao. Đúng chưa?”. Tôi lúng búng: “Dạ. Dạ… Đúng!”. “Vậy bay nghe tao nói nghen. Tao với cô bay bữa này chấm dứt. Hết tình. Hết bồ bịch. Gái trai. Tao thề tao mà còn thương bả nữa tao đội quần bay. Tao nói thiệt! Tao đội quần con cháu dâu đây. Bà ở trong mùng bà nghe rõ chưa. Bà Mai, bà nghe rõ chưa, hử?”. Nói rồi chú tự động tắt đèn, khẽ bước ra nhà sau và lách mình qua con mương nhỏ, ra đường. Khi chú đi rồi, tôi mới hay là mình quên đóng cửa buồng, hồi cho cô chui vô. Cũng may, chồng tôi vắng nhà và mọi người trong gia đình đang yên giấc nên không ai hay biết gì. Ba Tôi cứ ngờ sự việc trầm trọng tới vậy và chú Hai ổng đã thề tới mức đó, chắc cô chú phải thôi nhau. Ai dè sau đó mấy bữa, đi ngang chỗ chú vẫn ngồi uống bia hơi mỗi chiều, đã nghe tới hai giọng réo tên mình ơi ới. Đang đạp xe ngon trớn, tôi mất hồn bóp phanh thiếu điều chúi té. Dòm vô quán thấy có hai người ngồi sát nhau. Là cô và chú. Thấy có hai nụ cười chờ đón mình. Là chú với cô. Chú rót bia từ ca ra ly. Bưng đưa tận tay tôi ra bộ rất chu đáo. Còn cô xé miếng mực lớn chấm vô đĩa tương. Cũng trao vô tay tôi coi bộ rất tận tụy. Sao sướng dữ, hé! Tôi dè chừng đưa mắt ngó quanh. Thấy tình chú cô lưu luyến ở khóe mắt, bờ môi… Ở bàn tay chú khô khiễng đặt hờ lên đùi cô teo héo. Tình vầy ít gì nữa na! Là tình của nẫu ấy mà! Chương ướng vậy, hay gì nổi? Nhưng ai biểu dở, nói giùm coi? Người đã sáu lăm sáu bảy sao tình mãi thuở ban sơ? Tôi hớp một ngụm bia và nhai thiệt kỹ miếng mực. Vừa nhai tôi vừa nhìn cô bối rối dụi đi dụi lại tàn thuốc và chú lóng ngóng vuốt đi vuốt lại bộ râu. Cô tằng hắng và chú e hèm cũng mấy lần vậy mới chép miệng rồi ngập ngừng mở lời: “Thôi hử con cháu dâu. Chuyện bữa trước… Câu thề của chú á mà. Úy! Hơi nào… Con đừng có để bụng nghen. Thì đội quần… Đội quần cũng như đội vải chứ khác gì đâu con, hé! Vậy hử?”. Coi! Hay dữ? Và tôi ngắc ngứ miết điều định nói. Câu chữ đã hình thành nhưng được giữ lại trong vòm họng nên đâu thể tuôn ra. Nằm im ru và ngọ nguậy. Thành những dấu hỏi liền kề, áp sát và hối thúc bờ môi. Nhưng miệng không mở lấy gì tiếng nói phát ra? Lặng thinh một chặp rồi chần chừ cả đỗi, tôi chào cô chú và rời quán. Không quên ăn thêm một miếng mực nướng cô đưa và húp thêm một ngụm bia hơi chú mời. Chưa đủ vì tai còn mắc nghe thêm một lần nữa câu này: “Vậy hé! Con… Thì đội quần cũng như đội vải í mà!”. Tôi chậc lưỡi thôi kệ hai người. Kệ cuộc yêu của họ. Đã thành lệ. Mờ sớm cô chú gặp nhau nơi cái quán cóc gần nhà. Chú không biết uống cà phê, hút thuốc nhưng luôn là người trả tiền. Chú thường đem ra đó hai cái bánh bao hoặc hai gói xôi hoặc hai ổ bánh mì bắt cô ăn cùng. Cô không có thói quen ăn sáng nhưng “Của ổng không ăn, ổng buồn mà có chút gì dằn bụng, ngồi sòng giấc trưa cũng đỡ xót xáy”. Cô thường nói vậy. Như chú thường cho cô tiền và nói: “Hề! Ít đồng cho cái túi bà nó khỏi ở không. Cái túi mình nó cũng như cái ruột mình á chứ! Không có gì bỏ. Rỗng ruệch. Xót xáy, chịu gì nổi?”. Hai người lình xình ở đó cũng mấy tiếng đồng hồ mới chịu chia tay trong niềm lưu luyến. Chú trở về nhà với vợ con. Cô vô sòng ngồi luôn tới khoảng năm, sáu giờ chiều. Sòng rã, lại tìm ra quán bia hơi chú hay ngồi. Cô không biết bia rượu nên vừa hút thuốc vừa xé mực chấm tương vừa xoa vỏ đậu phộng giúp chú. Hay lắm kìa! Cô xoa đậu đặt vô lòng bàn tay. Chú lượm từng hột, từng hột một nhâm nhi. Đôi hồi, cô bụm bàn tay, đọc mấy câu đồng dao của lũ nhỏ: “Chi chi. Chành chành… Cái đanh thổi lửa…” rồi chụp lấy bàn tay chú ôm khư khư. Ớn ghê ớn gớm! Dòm, đã muốn kiếm ai đó đặng ôm. Mà cái nòi ôm, kỳ, không ôm thì thôi, ôm chi cái tay cũng chịu mang tiếng đời. Nên có đôi lần chú cũng có lén ôm hờ bờ vai cô. Đó là nghe cô chủ quán méc lại. Cô đó là bạn tôi mà. Hai người lình xình ở đó gần hết buổi tối rồi mới chịu ai về nhà đó. Bốn Ở xóm tôi cũng có một ông già cỡ chú, nghĩa là trên tuổi sáu lăm. Cũng đâu làm gì. Cũng rượu bia tối ngày. Cũng có bộ ria con kiến cứng đơ vểnh ngược. Cũng thứ hai. Kêu là ông Hai Hết. Kêu vậy thôi chứ đâu ai biết tên thiệt ổng là gì. Ông đây say rượu từ mờ sớm tới hồi xoa hai chân ình lên cái chõng kê trước hè, ngủ mê mết. Ông đây gặp ai cũng bắt người đó đứng lại nghe ngâm cho đủ câu này mới cho đi. Câu đó là vầy: “Áo dzũ cơ hàn có thế thôi! Cuộc đời Hai Hết đã hết rồi. Tình yêu cũng hết tiền cũng hết. Ra trước hành pháp luật pháp xử tròn đẹp như mơ…” và sau đó là nói: “Đời là xê la vi. Tình là xe ba lua. Bất quá nằm cho xe ba lua cán chết luôn!”. Ông đây ngâm và nói câu đầu tiên là với bác Ba Dị, ở sát nhà khi bác bưng xoong bánh canh chả cá ra vỉa hè bán. Bác Ba nói bữa nào ông Hết đau ốm hay mắc đi đâu, tui không được ổng chặn lại để nghe câu đó là bữa đó ế tàn ế mạt luôn nghe. Cha mẹ ơi! Cả nhà húp bánh canh muốn bịnh. Y hình vậy mà có bữa, chưa thấy ông Hai Hết chặn lại ngâm và đọc thần chú, bác Ba như gà mắc đẻ ra vô luýnh quýnh chứ không chịu dọn hàng. Nói vậy chứ không mua bán thì thôi, đã bán mua ai ưng gì cái chuyện ế ẩm. Đi bạn ra khơi lỗ tổn xăng dầu. Nấu xoong bánh canh không tính công xá cũng lỗ tổn cả trăm, chứ ít ỏi gì na! Ông Hai Hết ngâm câu đầu là với bác Ba Dị, ngâm rất nhiều, câu sau là với quá chừng chừng là người. Chân đi tới đâu là “Áo dzũ cơ hàn…” tới đó và bất cứ cuộc gặp nào cũng không sót được lời tâm tình rút ruột rút gan “… cuộc đời Hai Hết đã hết rồi…”. Nhưng câu cuối tuyệt đối ổng ngâm cho chính ổng nghe. Nội lời độc thoại cho bản thân, ông Hai cũng nghiên cứu rất kỹ và rất nghiêm túc, khi thực hiện. Dù say ngả say nghiêng, bước lao chao lúi chúi vẫn về được tới tận nhà, vẫn ngồi đàng hoàng xuống chiếu. Giở cặp chân ra khỏi đôi dép lào, từ tốn xoa hai chân vào nhau như cách rũ sạch bụi trần và miệng ê a, ê a… Ông tính thiệt tài tình vì vừa tới chữ cuối “… cho xe ba lua cán chết luôn” là ông Hết kịp đặt cái đầu mình lên gối và ngủ vùi. Ông Hai Hết nghe nói hồi nhỏ cũng mê cô Mai dữ lắm. Cái thời cô Mai tháng nào cũng lên hiệu ảnh, chụp hình với sắc áo của đủ các dân tộc trên thế giới. Ông Hai ưa hình cô mặc kimono đặt cái dù hờ hững trên bờ vai. Mỗi lần, cô đưa hình khoe là ông Hai Hết cất tiếng ngân nga: “Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa. Cho tôi bớt mơ mộng chiều chiều nhìn mây trôi xa xa…” (**). Tôi hỏi một lần: - Ông Hai xóm mình là ông Hai Hết, còn ông Hai của cô? - … - Trời! Bồ bịch lâu lắc không biết tên người ta. - Tao có hỏi. Ổng nói bà thử đoán coi. Tao nói Hai Rô, ổng nói bà bài bạc quen chứ rô bích nào ở đây. Rồi tao nói Hai Thiên, ổng nói bà cứ trên trời ngó coi thằng nào ngon hơn tui đặng mê nên ưa tên Thiên chứ sao! - … - Tao nói ổng là ông Hai Dại. Cái ổng nói ý bà nói tui mê bà quá cái ngu hé? - Vậy cũng không phải tên đó. - Ừ! Ổng nói ông già tui biết tui có cái cốt mê phụ nữ đặt chi tên dại. Chưa phải dại đã ngu tàn ngu mạt vầy. Dại nữa chết liền! - Rồi sao nữa? Con người phải có tên chứ! - Bí thiết quá cái tao kêu ổng là ông Hai Hù. Vậy mà ổng chịu. Ưa hung chứ! Vậy là từ bữa đó, bạn trai của cô có tên Hai Hù. Chú coi bộ ưng cái tên này dữ lắm! Mắt sáng trưng cười nhỏn nhẻn mỗi lần tới nhà tụi tôi chơi mà nghe ai kêu ông Hai Hù, chú Hai Hù, anh Hai Hù. Chú dặn lui dặn tới lũ tui là phải luôn luôn kêu vậy. Để chi biết không? Để phân biệt với cái thằng cha Hai Hết trước cửa nhà. Chú nói thằng đó thương bả hồi đó nhằm nhò gì. Ngon thương bả hồi này đi! Tao thương bả tao còn bao bả ăn sáng, uống cà phê, cho bả tiền đánh bài, chứ Hai Hết há? Có cái mạng trành “Áo dzũ cơ hàn có thế thôi…”. Rồi chú trầm ngâm giây lát trước khi tâm sự tiếp: “Hai Hết hát hay quá. Cái bài Ai lên xứ hoa đào tao nghe Hà Thanh hát rồi nhiều người hát mà đâu ai hát hay bằng cái thằng cha Hai Hết mày. Con bà nó, cái thằng, hát nghe sao mà thiệt sướng cái lỗ tai chứ bay”! Có lần, tôi méc lại lời chú tâm sự với chồng. Đang nằm trên giường, anh cười thiếu điều lăn mình xuống đất. Cười đã đời mới cho hay là chú Hai Hù ghen với Hai Hết. Quê, ổng cố tình chơi xỏ tình địch nên khen đểu. Đâu dè, tôi ngu quá tưởng thiệt. Chồng tôi còn ngắt nghẻo: Hay. Hay cái con khỉ! Ca sĩ hát được là nhờ có bộ răng sít sao, liền lạc. Nó cũng như cái cổng để chặn bớt bụi bặm, rác rến, có vậy nhà cửa mới sạch sẽ chứ! Đây răng của chú Hai Hết nó trống huơ trống hoác, âm tiếng phát ra phều phào hay gì nổi? Hai Hù thấy vậy mà thâm độc dữ, hé! Có điều mấy cha đó thuộc bài dữ lắm em ơi! Hát hỏng lào khào không ra sao, vậy mà hát đủ chữ đủ câu đàng hoàng. Thiếu là ý kiến. Đã nói hát chắc lụi mà. Tôi à lên thích thú. Là vậy đó, người già hát chắc lụi mới hay. Và hát cũng như yêu: trọn lỏn, gọn bưng duy nhất một cuộc thôi nhưng ứ đầy và dặc dài bắt ớn. Cái cuộc yêu đó, của mỗi người, như đày như đọa, làm sao mà lý giải.

Mỹ Hạnh | THETHAOVANHOA.VN

23 năm kể từ ngày xuất bản, tập thơ Sự mất ngủ của lửa của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã trở lại đầy cảm xúc. Đây được xem là bản song tấu giữa thơ và hội họa.

Năm 1993, một năm sau khi Sự mất ngủ của lửa được NXB Lao động ấn hành, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã nhận được giải thưởng cao quý từ Hội Nhà văn Việt Nam. Nhưng đằng sau vinh quang ấy, Sự mất ngủ của lửa cũng gặp không ít sóng gió.

Có lẽ chính vì thế mà ngay phần mở đầu của Sự mất ngủ của lửa tái bản, Quang Thiều đã chia sẻ những suy nghĩ đầy đau đớn: "Sau khi Sự mất ngủ của lửa được trao giải, một cơn bão với các bài phê phán cay nghiệt và những lời bàn tán đầy nhạo báng đã đổ xuống đầu tôi".

Dẫu vậy, dù có những "sóng gió cuộc đời", Nguyễn Quang Thiều và Sự mất ngủ của lửa vẫn âm ỉ cháy và để rồi sau 23 năm kể từ ngày xuất bản, tập thơ đã có một sự trở lại đầy ngoạn mục, còn với Quang Thiều như chia sẻ của chính ông: "tôi không hề đổi thay con đường tôi đã đi".

Trong không gian ấm cúng của một quán cà phê giữa lòng Hà Nội tấp nập, Quang Thiều và Sự mất ngủ của lửa đã thực sự trở lại đầy cảm xúc. Vẫn những bài thơ ấy, vẫn với giọng thơ ấy, nhưng Sự mất ngủ của lửa lần này như đã nói là một cuộc lột xác khó tin, đầy mộng mị.

Không chỉ còn là những trang thơ đơn độc, Sự mất ngủ của lửa trong lần tái bản này rất dễ nhận thấy những sự khác biệt. Bên cạnh một văn bản bằng ngôn từ, còn có một văn bản thứ hai được thể hiện bằng ngôn ngữ hội họa. "Văn bản thứ hai làm cho Sự mất ngủ của lửa thêm một không gian mới, một nhịp điệu mới và một suy tưởng mới" - nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho hay.

Trong Sự mất ngủ của lửa, Nguyễn Quang Thiều có một nỗi ám ảnh mang tên làng Chùa - quê hương tác giả. Từ "mẫu gốc" làng Chùa ấy phái sinh nhiều "cổ mẫu" như dòng sông, những người phụ nữ (bà, mẹ, người đàn bà gánh nước sông...). Đó chính là căn nguyên để tạo ra một thế giới hình ảnh đa phân, biến ảo trong thơ Nguyễn Quang Thiều.

Nói trong lần ra mắt tái bản, nhà thơ Quang Khải, người "đỡ đầu" của Sự mất ngủ của lửa nhận định rằng tập thơ đáng được trân trọng nhờ những đột phá trong ngôn từ. Trong khi đó, nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn đã chỉ ra 3 điểm nổi bật từ Sự mất ngủ của lửa.

"Lúc đầu tôi khá dửng dưng với Quang Thiều, nhưng đến Sự mất ngủ của lửa thì đây là sự lên tiếng của một giá trị mới" - nhà phê bình văn học Chu Văn Sơnnói. "Tôi cho rằng Quang Thiều đã làm được nhiều điều. Đầu tiên đó là việc nói về sự kỳ bí của nỗi buồn phận người nơi làng quê Việt, kế đến là việc linh thiêng hóa cái đẹp trong đời thường. Tập thơ cũng đã vận dụng khá thành công thơ truyền thống (ngâm và nói) vào trong thi pháp".

YBOOK.vn


    Hiện tại chưa có thảo luận nào về vấn đề này.
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
  • CÁC TIN BÀI KHÁC
  • Thi sĩ Du Tử Lê qua đời

    Thi sĩ Du Tử Lê qua đời (10/10/2019)

    Lam Điền | TUOITRE.VN

    Trái tim nhà thơ Du Tử Lê vừa ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối thứ hai 7-10 (theo giờ Mỹ) tại nhà riêng của ông ở Garden Grove (Mỹ), hưởng thọ 77 tuổi, theo thông tin từ người nhà phát đi trên trang cá nhân trưa nay.

  • Phát hành 9 truyện ngắn chưa từng công bố của Marcel Proust

    Phát hành 9 truyện ngắn chưa từng công bố của Marcel Proust (08/10/2019)

    Trường Lân | TUOITRE.VN

     Qua 9 truyện ngắn, các nhà nghiên cứu có thể lần về cội nguồn để tìm hiểu cảm hứng của Proust khi viết Đi tìm thời gian đã mất nhưng một số độc giả cho rằng không nên lục lọi "tận đáy ngăn kéo" để moi ra những điều mà nhà văn đã muốn giấu...