GIỚI THIỆU SÁCH

  • Di cảo Lưu Quang Vũ Lưu Khánh Thơ Những trang nhật ký mơ mộng, lãng mạn đến những bài thơ xé rách đầy dằn vặt, đau xót tuyển từ di cảo của nhà thơ - nhà viết kịch Lưu Quang Vũ do PGS.TS Lưu Khánh Thơ biên soạn và tuyển chọn.
    ...
  • Về miền Ví dặm cùng em Cẩm Thạch "Thơ chị Cẩm Thạch không nhiều biến hóa, không phức tạp, và thi pháp theo lối thơ truyền thống. Nổi bật lên trong thơ chị là chất tâm tình, chia sẻ, với một giọng điệu ngợi ca hồn nhiên. Về ngôn ngữ thơ Cẩm Thạch rất giàu tính ca từ. Đọc thơ Cẩm Thạch, người ta thấy chị cũng thường hướng tới chủ đề mang tính thời sự. Những sự kiện nóng bỏng của đất nước như "biển đảo dậy sóng", như "chất độc màu da cam" thường khiến chị day dứt, trở trăng mà viết thành thơ. Và với bài thơ thời sự nào chị cũng muốn gửi gắm lòng mình cùng quê hương xứ sở. Và đặc biệt, khi "Ví Dặm Nghệ Tĩnh" được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại, chị viết cả loạt bài về câu chuyện này. Mỗi bài một vẻ, nhưng tựu trung là ngợi ca "di sản" của quê hương. Ai mang câu Ví dặmTrải đồng xanh mơ màngCon đường quê rợp bóngNgẩn ngơ ánh trăng vàngXanh xanh bãi ngô nonNeo lòng người xa xứƠi miền quê nghèo khó,Nơi cát bạc gió Lào Và cuối cùng là lời mời chân thành và tha thiết với mọi người: Về miền Ví dặm cùng em." Nghệ An, 06/08/2017 Nguyễn Trọng Tạo
    ...
  • Tiếng cười thơm sân trường Cẩm Thạch Tập thơ gồm hơn 50 bài của nhà thơ, nhà giáo Cẩm Thạch.
    ...
  • Dấu chân còn ấm hơi Người... Cẩm Thạch Dấu chân còn ấm hơi Người gồm 33 bài thơ của tác giả Cẩm Thạch. Tập thơ ra đời nhân 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. MỤC LỤC Cung đàn tính Núi rừng thương nhớ Bác Đêm bên lăng Bác Con vẽ hình của Bác Phan Thiết đợi Người Nôn nao mùa thu Dâng Bác Ấm mãi tình Cha Về quê Bác Tượng đài trong lòng Mường xa con đã về bên Bác Hồ Bộ đội Cụ Hồ Quê hương đón Bác Tết Lào trên quê hương Bác ...
    ...
  • Nỗi niềm Sao Mai Tâm tình với mọi người bằng thơ là sự chấp nhận từ một trạng thái tâm lý có khi buồn, vui – Khi thả lõng như mây phiêu bạt hoặc siết chặt đến đau đớn nghẹn ngào. Tôi bắt gặp tâm tình của nhà thơ Sao Mai qua các bài thơ tràn ngập cảm xúc, trên hành trình nhân sinh đầy thú vị:Từ Cần thơ chiều: Tôi chợt lẻ loi như khách lạ bên đườngNgơ ngẩn giữa hoàng hôn như lạc nguồn sữa mẹTôi già tự bao giờ mà Cần Thơ vẫn trẻVẫn chung tình đợi chiều xuống trăng lên! Nhà thơ bắt đầu một chuyến đi trong tất tả Nhịp đời: Chỉ mỗi hàng cây với mỗi tôiVới dòng sông lạnh với đơn côiVới câu hò lửng buồn như khócVới mái chèo thưa khuấy nhịp đời! Chưa ra khỏi vòm cây, bóng lá in đậm sắc chiều, lòng người ly hương như bồi hồi, tiếc nuối một quá khứ tự tại, nhẹ một nỗi hờn trách mà chẳng cần ai biết, ai hay, nên đành Gửi nắng qua sông: Chiều em gửi nắng qua sôngLá tình thắm nhớ nhuộm lòng bay theoChiều nay nỗi nhớ trong veoLồng phiên ảnh thuở lội đèo trèo sôngChiều nay sóng rát bến mongDập duềnh chiếc lá nẩy lòng nhớ ai! ... Tập thơ Nỗi niềm với 65 bài dài, ngắn qua các thể loại và phong cách, khó giới thiệu hết được trong một khuôn khổ nhất định, nhưng tin rằng: không phải một tuyển tập này thôi, chắc chắn còn bắt gặp Sao Mai trong nhiều thi phẩm nữa. Với dòng chảy này, Sao Mai sẽ từng bước đạt được ước mơ: làm thơ là vắt sữa cho đời. Đông NguyênHội viên Hội nhà văn TPHCM
    ...
  • Lục bát ru em Lam Giang Gần 50 bài thơ với độc nhất thể loại lục bát, tác giả Lam Giang ghi lại tâm tư, cảm xúc của mình qua những nơi chốn đặt chân đến, một "Đêm mưa Hà Nội", "Một sáng sông Tiền", "Một lần phố cổ", rồi "Thung lũng Tình Yêu", "Tuyền Lâm", "Tháp Bà", "Nha Trang có biển", v.v.. qua những cỏ cây hoa lá "Bất chợt hoa xoan", "Gặp lại hoa đào" hay chỉ là một "Cuối chiều" vẻn vẹn với 6 câu: Cuối chiều ngày hết rồi emKhép căn phòng lại, đi tìm nàng thơTặng mình một thoáng vu vơTặng em chắc cũng hững hờ phôi phaiThôi thì gửi tặng gió mâyCho mình còn một chút say với nhiều. Mỗi bài những đề tài khác nhau, nhưng một điểm chung là sự xuất hiện của nhân vật "em" trong hầu hết tất cả tác phẩm. Dường như đó là nguồn cơn, là cảm hứng và cũng là người mà Lam Giang muốn gửi gắm những vần thơ... Lục bát ru em! MỤC LỤC Đêm mưa Hà Nội Bất chợt hoa xoan Chiều ba mươi Viếng chùa Gặp lại hoa đào Ghé thăm mình Trong thung lũng Tình Yêu Tuyền Lâm Tháp Bà Nha Trang có biển Với hòn Chồng Một lần phố cổ Cần Thơ Đêm Rạch Giá Biển ru Một sáng sông Tiền ...
    ...
  • Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ Phạm Sỹ Sáu Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu.[...] Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh.[...] Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Đoạn rời ở suối Thmey Từ một tin đồn Mắc võng trong rừng le Ghi thư trên đường hành quân Trận địa Thôpjăng Run sống và chiến đấu Đêm trăng trên chốt 4 Ở điểm cao 194 (chốt 2) Đêm trăng ở rừng dầu Kratie Đêm giao thừa ở biên giới Tây K Lục bát Palin Hành quân về Amleng Chiều mưa Poi Pet ...
    ...
  • Điểm danh đồng đội Phạm Sỹ Sáu Hãy sắp hàng vào cho tao điểm danhNhững thằng lính ở miền xa rất trẻHãy sắp hàng vào để nghe tao kểChuyện đánh nhau và chuyện... yêu nhauA! Có thằng nào còn mang băng trắng trên đầuTiến một bước, nếu thấy còn chỗ trốngĐừng băn khoăn nếu có thằng hy sinh và thằng...chạy trốnCòn lại tụi mình thì vẫn cứ thương nhauHãy vì nhau mà đừng để lòng sầuBởi cái chết chẳng thể nào tự đến.... Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. ...Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh... Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn   MỤC LỤC Bài hành tráng sĩ mới Nghe chim "bắt cô trói cột" giữa rừng Mê-lai Buổi sáng Không chỉ là mặt trận Thơ viết ở Âm-pin Bà má Miền Tây Trăng giữa rừng Ở phương nầy Tiễn đưa Với miền Tây Bắc-xa Chia tay đồng đội Nợ Kỷ niệm xôn xao Trong vườn xoài Pre-nét Pre Mùa mưa đời lính đi qua Theo mùa xuân vào Pai-lin Tiếng tắc kè Trước đền Ăng-co ...
    ...
  • Ra đi từ thành phố Phạm Sỹ Sáu Ra đi từ thành phố đạt giải nhất thơ Cuộc vận động sáng tác Văn Học kỷ niệm 40 năm thành lập nước do Hội Nhà Văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức năm 1986. Tập thơ ngoài bản trường ca mà tác giả lấy tên đặt cho cả tập còn có 5 bài thơ khác nữa. Tuy nhiên, có thể xem các bài thơ ấy là sự bổ sung, sự tiếp nối bản trường ca vốn mang nhiều tâm huyết của anh. Phạm Sỹ Sáu dành vị trí danh dự cho bản trường ca Ra đi từ thành phố. Trường ca là thể tài được nhiều nhà thơ sử dụng khi cần thể hiện cảm hứng công dân trong một dung lượng lớn mà một vài bài thơ không chứa nổi. Cho đến giờ, ở ta, ít có những trường ca thuần khiết. Đó là lý do trường ca trên thực thế được coi là trường thi (thơ dài). Nói thế để thấy rõ vai trò đặc biệt của chất trữ tình trong cái gọi là trường ca ở ta. Trong trường ca có kể, có tả song câu chuyện và hình ảnh phải thấm đậm cảm xúc, suy tư. Tiếc là chất trữ tình trong nhiều đoạn của tập thơ chưa thật tương xứng. Đôi đoạn còn sa vào kể lể dài dòng. Bản trường ca chưa gây được ấn tượng thật mạnh, thật sâu là vì thế. Giá có nhiều đoạn như đoạn sau thì sự thể có lẽ sẽ khác: Nhận đồng hương chút cho vuiNghe em nói, thấy em cười, thế thôiTrao kỷ vật dưới chân đồiNụ hoa tím nói thay lời... chia tay Mỗi câu, mỗi từ đều nồng ấm cảm nghĩ. Chính cái chất trữ tình này đã làm say cuốn người đọc trường ca. Cũng cần đòi hỏi cao hơn sự tinh luyện của câu chữ. Chớ nên để tồn tại những câu thơ thiếu sức ngân vang như câu này: Chưa biết hoa gì có làn hương thoảng qua từng chặphương thoảng qua mà xốn xang trong lòng Cũng chớ nên để ngôn từ thành hàng rào ngăn chắn cảm xúc của người đọc như từ "tao ngộ" trong trường hợp sau:lần đầu tiên chúng tôi bị độngtrước kẻ địch lẩn nhanh như sócchút tao ngộ cho chúng tôi bài học Những hạt sạn như thế không nhiều, song không phải là không đáng nói, nhất là với những cây bút có nghề. Dẫu sao Ra đi từ thành phố cũng là một đóng góp qúy giá của Phạm Sỹ Sáu vào dòng thơ viết về chiến tranh và người lính. Tác giả đã chọn cho mình một giọng điệu riêng khá thích hợp nhằm dựng lại chân dung tinh thần của người cầm súng trong cuộc chiến mới của dân tộc mà cho đến giờ còn ít được thể hiện trong thơ. Những cơn mưa đi vào lòng thành lửaCháy không nguôi những kỷ niệm chiến trường Xin cảm ơn ngọn lửa trong thơ anh đã góp phần thắp lên ngọn lửa trong lòng bạn đọc chúng ta. Người lính "Ra đi từ thành phố", Đà Lạt, 21-6-1995   MỤC LỤC Ra đi từ thành phố (Trường Ca) Chiến sĩ mới Đến với biên giới miền Đông Nhìn lại Kỷ niệm về những con người Kỷ niệm về những địa danh Hành tráng sĩ mới Tiễn đưa Cảm xúc trước một tượng Bay-on không nguyên vẹn Mùa mưa đời lính đi qua Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ
    ...
  • Thơ với tuổi thơ Phạm Sỹ Sáu Tráng sĩ không bơi qua sôngTráng sĩ đi bằng đường khôngTráng sĩ đi bằng xe kháchTráng sĩ lên đường lòng hề mênh mông, mênh mông Không là Kinh Kha ngày xưa qua sông DịchKhông là thở than của khúc Tống biệt hànhTráng sĩ chừ qua sông, qua sôngSống vỗ mạn phà hề sóng vỗ Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử. Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khu biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. Trong một lần lên điểm tựa Chi Ma (Lạng Sơn) đọc thơ, Phạm Sỹ Sáu thông cảm với những gian nan dường như là số phận của đời lính ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời nào: Mười năm chiến trường trộn vào câu chuyệnHòa lẫn tiếng lòng nỗi nhớ tình yêuLính biên giới hướng nào gian khó cũng nhiềuCũng thừa muối thiếu rau những bữa cơm điểm tựa. Nhưng phải chăng lính tình nguyện ở Campuchia thiệt thòi, vất vả hơn? Các anh ở đây có thông làm chỗ tựaCó câu hát sli lượn như sóng Kỳ CùngCác anh ở đây có dân bản Tày NùngCó tiếng Việt kết câu bằng chữ vớ. Kết bằng chữ gì thì vẫn cứ là tiếng Việt, để người cầm súng yên tâm rằng mình đương được Đất Mẹ chở che Các anh hạ sơn gặp con suối cạn/ Có hoa sim tím, có trẩu, có mua/ Gặp cơn gió lùa nhanh qua hẻm núi/ Gặp hương đất nước trong bài dân ca. Bài thơ viết năm 1987. Từ biên giới Lạng Sơn "Trở lại Tây Bắc K", tiếp tục những ngày chiến trận bên ngoài biên giới Tổ quốc, tâm hồn Phạm Sỹ Sáu như trĩu nặng thêm Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn bao nhiêu thằng nằm lại/ Mà vinh quang - chùm con chữ dư thừa. Một cái chép miệng chua chát đôi khi trở thành giận dữ trước bao điều ngang tai trái mắt của thời kì "tranh tối tranh sáng" mà người lính dù ở xa ngàn dặm vẫn phải gánh chịu, không thể dửng dưng. Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn cứ đêm ngày trăn trở/ Về sự hy sinh/ Về tốc độ mất giá của đồng tiền/ Về những điều thiêng liêng và đốn mạt/ Chiến tranh đâu phải là canh bạc/ Mà người lính nào cũng tin vào hên xui. Đến những bài thơ viết cuối thập niên 80, Phạm Sỹ Sáu đã vượt qua sự hồn nhiên, kể lể để đi dần đến những kết tinh có tính khái quát, mang nặng suy tưởng, chiêm nghiệm. "Thơ tặng chiến sĩ vô danh" viết sau ngày bộ đội tình nguyện Việt Nam hoàn thành lộ trình rút quân khỏi Campuchia là một bài thơ hay, đa nghĩa. Có một chút hờn dỗi trong những câu này Cuộc chiến tranh đã đi qua/ Sau những hội hè lễ đón/ Thiên hạ cứ yên tâm đã làm trọn/ Những gì cần làm đối với người lính tình nguyện Việt Nam. Nhưng nhiều hơn những chống chếnh, lo lắng mơ hồ, tưởng như vô lí nhưng rất thành thực, chỉ những ai từng đi qua chiến tranh mới cảm nhận được. Nhà thơ nói về những người đã ngã xuống hay nói về chính thân phận những người lính hậu chiến? Không có chiến tranh/ Không có quân tình nguyện/ Mỗi mình anh trò chuyện/ Cùng đêm và ngày nơi xa.../ Tổ quốc cũng là anh/ Người lính độc hành trong từng hơi thở/ Đêm và ngày không tỏ/ Anh - một mình/ hy sinh/ Không đồng đội - không bạn bè/ Anh một mình cùng tiếng nói/ Nghe từ xa, rất xa. Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh. Ở chặng thơ đầu thập kỷ tám mươi, bài thơ sẽ còn được in lại dài dài là "Bài hành tráng sĩ mới", một thành công đột xuất giữa rất nhiều bài bình thường trong tập thơ dày tới hơn hai trăm trang "Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ". Nhà thơ, nhà phê bình văn học Hoài Anh coi đây là bài thơ "nhại" lại Tống biệt hành nổi tiếng của Thâm Tâm bằng cách "đối chiếu với các hoàn cảnh thường ngày và lịch sử của nó". Thời chống Mỹ, trong những bài thơ đầu đời lính, Thanh Thảo đã làm điều đó trong "Bài ca ống cóng". Những tráng ca thuở trước/ Còn hát trong sách tôi/ Những thanh gươm yên ngựa/ Giờ đã cũ mèm rồi/ Bài ca của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời... Sự lặp lại thủ pháp này của hai thế hệ thơ cách nhau mười năm một phần là do sự trùng hợp của hoàn cảnh và tâm trạng: những thanh niên có học, khi đối diện với thực tế trần trụi của chiến trường đã tự rũ bỏ những ảo tưởng hiệp sĩ nhiễm từ lớp lớp trang thơ cổ. Chiến tranh không phải trò đùa, càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải được khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22/1/2005 Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Lời giới thiệu Trăng thượng tuần ở Poi Pét Ca-chiu-sa giữa rừng Chia tay cửa rừng Kỷ niệm xôn xao Điều bất thường bình thường Gởi bạn bè chiến trường ở Âm-pin Đọc thơ ở điểm tựa Chi Ma Trở lại Tây Bắc K Thơ tặng chiến sĩ vô danh Lính rừng sâu Cũng đành Ở phương này Tiếng tắc kè Gửi bạn bè làm xong nghĩa vụ Bài hành tráng sĩ mới Bài thơ xanh Tự thú trước đền Angkor Một chút ngày Giêng
    ...
  • Khúc ca đồng đội Phạm Sỹ Sáu Khúc ca đồng đội xuất bản lần này như một lời tri ân, như một niềm hồi tưởng dẫu có muộn màng. Chiến tranh biên giới Tây Nam đã bước vào kỷ niệm tuổi 30 mà gương mặt đồng đội ngày xưa qua điểm danh sao vẫn còn thiếu vắng. Xin bắt đầu chiến dịch mới - chiến dịch thăm lại chiến trường xưa - bằng khúc ca của những ngày gian khó. Hy vọng Khúc ca đồng đội sẽ là món quà nhỏ trong hành trang trở lại nơi bắt đầu hoặc bắt đầu từ một nơi sẽ trở lại – Campuchia. Sau ngày 26.09.1989 – ngày người lính tình nguyện Việt Nam cuối cùng rời khỏi Campuchia trở về Tổ quốc, tôi may mắn có được ba lần trở lại đất nước Ăng ko - một lần bằng đường không và hai lần bằng đường bộ. Từ trên máy bay nhìn xuống hay từ mặt đất nhìn ngang, ở đâu tôi cũng bắt gặp những hình ảnh thân thương, tường chừng như máu thịt. Những dòng sông con suối, những cánh rừng phum làng, những ngọn núi cánh đồng - tất cả thật thân quen, thật gần gũi. Sự xa cách về địa lý chính trị dường như không còn nữa khi tôi có dịp đi qua những phum làng một thời chưa xa tôi và đồng đội đã có dịp đặt chân qua. Một thời tuổi trẻ chúng tôi đã chen vai sát cánh cùng quân và dân Campuchia bảo vệ cuộc sống yên bình trong phấp phỏng chiến tranh và bất an rình rập. Một thời mà mỗi bước tiến công là những hy sinh mất mát, nhiều đớn đau lo âu. Giờ đây có dịp trở lại những vùng đất của một thời trong khung cảnh hòa bình thật sự, bên cạnh những người-còn-lại-may-mắn cùng gia đình, tôi mới cảm nhận đầy đủ giá trị của những năm tháng chiến đấu giữ nước từ xa và giúp bạn là tự giúp mình. Mỗi chặng đường qua, mỗi ngày vừa tới trên hành trình trở lại, tôi cảm nhận đầy đủ hơn tiếng gọi bạn bè. Trong mênh mông đồng lúa, trong nhộn nhịp phố thị, trong tĩnh lặng phum xa, trong uy nghiêm đền tích... đâu đâu tôi cũng cảm nhận những ánh mắt trìu mến thân thương của những đồng đội đã khuất của mình. Phạm Sỹ SáuĐầu mùa mưa 2008
    ...
  • Thơ trong sổ tay bạn trẻ Trần Đồng Minh Cái ngày cô chưa có chồngĐường gần tôi cứ đi vòng cho xaLối này lắm bưởi nhiều hoa...(Đi vòng để được qua nhà đấy thôi).Một hôm thấy cô cười cườiTôi yêu yêu quá nhưng hơi mất lòngBiết đâu rồi chả nói chòng:"Làng mình khối đưa phải lòng mình đây!"Một năm đến lắm là ngàyMùa thu mùa cốm vào ngay mùa hồngTừ ngày cô đi lấy chồngGớm sao có một quãng đồng mà xa.Bờ rào cây bưởi không hoaQua bên nhà thấy bên nhà vắng teoLợn không nuôi, đặc ao bèoGiầu không dây chẳng buồn leo vào giànGiếng thơi mưa ngập nước trànBa gian đầy cả ba gian nắng chiều Qua nhà - Nguyễn Bính Trước mặt bạn, trong tay bạn là những bài thơ tuổi xanh yêu thích. Một số bạn yêu thơ, làm thơ và nhiều học sinh lớp chuyên trường PTTH Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa (TP. Hồ Chí Minh) đã nhiệt tình góp nhặt. Không ít bạn chép kín năm, bảy trang thơ hằng ấp ủ. Có những bạn nêu ra đôi, ba bài đặc sắc bất ngờ. Vui mừng biết bao, truyền thống thơ của nước nhà vẫn chảy mạnh trong tâm hồn trẻ. 91 áng thơ chưa thể tập hợp hết lời ca, tiếng nói trái tim đã ngân rung bao đời nay. Có lẽ xin hẹn ở các tập tuyển tiếp. Ở đây là những bài thơ được các bạn trẻ yêu thích sưu tầm và tập hợp lại. Nhiều tác giả trẻ, họ mới cầm bút nhưng được đông đảo bạn đọc yêu mến.
    ...
  • Xôn xao đầu hạ Trần Thanh Chương Hành quân qua đỉnh đèo NgangPhút giây bỗng thấy mơ màng cõi tiênGiơ tay với áng mây mềmBước chân xen tiếng êm đềm sóng khơiLâng lâng cánh gió ru hờiNơi đây Non - Nước - Biển - Trời gặp nhau...Khuất xa đèo tự lúc nàoVẫn còn tiếc giấc chiêm bao đỉnh đèo. Trích "Một thoáng đèo Ngang" - Xôn xao đầu hạ Cuộc sống sôi động của người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã làm người bác sĩ quân y Trần Thanh Chương có nhiều rung cảm, nhiều trải nghiệm đáng quý. Chất lính, chất tình hài hòa, bay bỗng, quyện với chất triết luận sâu sắc tạo cho thơ Trần Thanh Chương vừa hiện thực, vừa lãng mạn, rất đời thường mà vẫn gợi mở nhiều tình ý sâu xa. 42 bài thơ được viết trong khoảng thời gian từ 1971 - 2007, là những giãi bày, những niềm vui, nỗi buồn, niềm hy vọng, sự khát khao vẻ đẹp của con người và cuộc sống. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Xôn xao đầu hạ - Tập thơ đầu tay của bác sĩ Trần Thanh Chương - một người nặng tình với thơ. MỤC LỤC Ước Một thoáng đèo Ngang Tết Lời ru vùng ven Giấc ngủ ở hầm chữ A Tưởng chiêm bao Hoa khế Sông Yên Đợi Gió ru Lên Tây Bắc Ngu ngơ Nghiêng Thử thách Lãng mạn Lục bát lời ru Lặng lẽ phù sa Cảm xúc Di Linh Em gì ơi! Tâm sự nghề y Giữa phố Sài Gòn Vào Phương Nam Một góc Điện Biên Nắng Cần Thơ Vũng Tàu ...  
    ...
  • Chia tay cửa rừng Phạm Sỹ Sáu Chia tay cửa rừng là tập thơ của Phạm Sỹ Sáu gồm hầu hết những sáng tác đã viết trong thời gian tác giả là người lính chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Một ít bài được viết trong thời gian đi thực tập ở biên giới phía Bắc năm 1986-1987. Có thể nói đây là bộ sưu tập những bài thơ nổi tiếng của Phạm Sỹ Sáu đã từng được công bố trên các phương tiện truyền thông, tạo nên mối cảm thông sâu sắc với người hậu phương trong giai đoạn đất nước vừa có hòa bình lại vừa có chiến tranh. Đây là tập thơ được trao Giải B viết về đề tài Lực lượng Vũ trang nhân dân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam giai đoạn 1999-2004, Giải thưởng Văn học Sông Mêng lần thứ 2 tại Phnom Penh, CPC năm 2009. Bản xuất bản lần này có chỉnh sửa và bổ sung cho đúng những địa danh thực tế.
    ...
  • Khi ta còn có trái tim Trương Tâm Trong Khi ta còn có trái tim có những bài thơ Trương Tâm viết về các sự kiện chính trị gần đây: từ tình hình Nước Nga hậu Xô Viết, ông Putin được bầu làm tổng thống đến vụ ám sát bà Benazir Bhutto hay cuộc chiến kéo dài ở Palestine khiến những con người mất nước phải chui rúc trong những tổ rơm. Có những bài thơ lại là lời nhắn gửi của tác giả đến với những con người xung quanh: từ đứa con gái thân yêu đang "học tập" ở "trường đời" đến những đứa cháu được sinh ra trong hòa bình; cho đến những người bạn học thân thiết, những người đã từng cùng ông chiến đấu, những người đã yên nghỉ, những cô bé, cậu bé, chị, anh, em ông tình cờ gặp trên đường,.. Và cũng có những bài thơ là sự kết hợp giữa tinh thần Phật giáo với văn hóa nhân loại. Với tập thơ Khi ta còn có trái tim, Trương Tâm đã phục hoạt những giá trị tâm linh và định hình những cảm xúc có tính lịch sử của con người trong cuộc sống trên cả ba bình diện: cá nhân, dân tộc và toàn cầu. MỤC LỤC Cùng một tác giảLời mở đầuLời cảm ơn đặc biệtPhần 1 - Cho hoa sen nở giữa trái tim người Vấn nạn 1: Trần thế hay Niết bàn Giảng đường, giờ giới nghiêm 1963 Lửa Bồ Tát Tiếng chuông chùa Theo mẹ lên chùa Dâng hoa cúng Phật Ngày tắm Phật Công án Phật Biện chứng Kim Cương Nằm mơ nghe Phật thuyết pháp Hoa vô thường Khi ta còn có trái tim Chào em chân tánh đóa sen hồng Ngọn lửa hồng tôi sẽ đốt Tôi, tình yêu và lộ trình đi về cõi chết Tôi là một hạt bụi Đi tìm Thượng Đế Vịnh bức tranh cây bách do Minh Châu vẽ Tự tình 74 Tử sinh Phục sinh Vô thường, viết cho bạn bè đã chết Đêm thiền Phần 2 - Tâm thức dân tộc Vấn nạn 2: Tồn tại hay hủy diệt Tuyên ngôn độc lập Cô du kích Củ Chi Hát giữa biển, trời Nói với các cháu Đọa đầy Con đi học ngày đất nước đổi thay Đưa con về thăm quê nội Ngày đầu tiên đứng lớp Cảm nghĩ nhân ngày gặp bạn ở quê người Lâm, hãy yên nghỉ Khóc bạn Tưởng nhớ Trịnh Công Sơn Tiên ông xuống đời Tôi đi tìm lại hồn dân tộc Phần 3 - Tâm thức toàn cầu Vấn nạn 3: Toàn cầu hóa hay thống trị Thơ như niềm công phẫn lịch sử Biển, trời của ai Cảm xúc biển Thư gửi người con gái Palestine Đen và trắng Cảm thông về cái chết của bà Benazir Bhutto Aung San Suu Kyi, người đàn bà đứng sau khung của trại giam Về nước Nga hậu Xô Viết
    ...
  • Vườn mộng Thanh Yến Nữ thi sĩ Thanh Yến thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau năm 1975. Tuy sinh sau đẻ muộn nhưng với khát vọng và sự sáng tạo bền bỉ âm thầm, Thanh Yến đã làm nên tên tuổi của mình trên thi đàn Việt Nam với nhiều tập thơ có giá trị như: Miền trăng lạ, Khoảng khắc vườn thu, đặc biệt hơn cả là tập thơ Vườn Mộng. Thơ cô là những con chữ mượt mà, mang nặng một nỗi niềm day dứt, giàu chất suy tư và trải nghiệm với đời như thế này: Thôi thế từ nay trót lỡ làng Tình mình hẹn lại đến mùa sang Dấu kín vào thơ dòng tâm sự Giận người em giận cả thời gian (trích Giận người giận cả thời gian) Đâu đó còn mấy bài thơ cô viết tặng người con trai tài hoa nhưng yểu mệnh của mình với trái tim bao la của người mẹ. Với những ngày tưởng như êm ả Lại là tột đỉnh của đau thương Căn phòng bệnh lên màu trắng xóa Còn thều thào dư ngữ lúc lâm chung "Nhớ em, thương cha, nát lòng đau nghĩa mẹ" Đôi tay này mẹ bất lực nhìn con! (trích Xa con mãi mãi) Vào Vườn Mộng xin bạn nghĩ thật khẽ, để nghiệm ra những âm thanh dịu nhẹ của một cõi thi ca...  
    ...
  • Có hai dòng văn chương Hải Như Sách gồm hai phần. Phần một: Thơ; Phần hai: Tản văn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
    ...
  • Góc nhìn văn hóa

Dịch ca từ của Bob Dylan:

Cái khó, cái hay và niềm vui bất tận  


Sách của nhà văn, dịch giả Ngô Tự Lập

Ngô Tự Lập | THETHAOVANHOA.VN

Dịch thuật là công việc nhọc nhằn và mạo hiểm. Trong trường hợp ca từ của Bob Dylan những khó khăn này còn có lý do phong cách: Không chỉ sâu sắc, giàu hình ảnh, ca từ của Bob Dylan còn có đặc điểm là đa nghĩa.

Không giảng giải, không giáo huấn, sự mơ hồ về ý nghĩa, ca từ của ông để cho các hình ảnh và ẩn dụ gợi những liên tưởng, ám ảnh và mỗi người nghe đều có thể tìm thấy một thông điệp thích hợp.

Nói cách khác, ca khúc của ông để lại nhiều khoảng trống để người nghe chủ động tham gia sáng tạo. Có lẽ chính điều đó khiến cho ca khúc của ông phù hợp với nhiều lứa tuổi, nhiều quốc gia và nhiều thời đại. Và có lẽ cũng chính vì thế mà ca khúc của ông có sức sống mạnh mẽ vượt thời gian.

Tôi xin lấy ví dụ là hai bài hát tưởng chừng đơn giản của ông, Blowin' In The WindKnockin' On Heaven's Door.

Từ "Để gió cuốn đi"...

Blowin' In The Wind được Bob Dylan sáng tác năm 1962, khi ông mới có 21 tuổi, và nhanh chóng trở nên nổi tiếng toàn cầu, trở thánh ca của phong trào phản chiến và cuộc đấu tranh đời quyền dân sự tại Hoa Kỳ. Nguyên văn lời bài hát như sau:

Blowin' In The Wind

1. How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
How many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, how many times must the cannon balls fly
Before they're forever banned?
The answer, my friend, is blowin' in the wind
he answer is blowin' in the wind.

2. Yes, how many years can a mountain exist
Before it's washed to the sea?
Yes, how many years can some people exist
Before they're allowed to be free?
Yes, how many times can a man turn his head
Pretending he just doesn't see?
The answer, my friend, is blowin' in the wind
The answer is blowin' in the wind.

Blowin' In The Wind là một bài hát thuộc dòng nhạc đồng quê (Country). Một đặc điểm của loại nhạc này là ca từ và giai điệu thường được thêm thắt hoặc biến đổi ít nhiều ở các đoạn khác nhau, hay thậm chí ở những lần biểu diễn khác nhau, tuy vẫn giữ nét giai điệu chủ đạo. Điều này đặc biệt rõ nét trong trường hợp tác giả ca khúc cũng là ca sĩ, như trường hợp Bob Dylan.

Dưới đây là bản dịch - để hát - của chúng tôi, có tính đến những đặc điểm nói trên:

Để gió cuốn đi

1. Qua bao nhiêu núi với bao nhiêu con đường
Đàn ông mới xứng danh đàn ông?
Và chim câu trắng lướt qua bao biển rộng
Để mai đây ngủ yên nơi chân cồn?
Và viên đạn đại bác sẽ bay đi bao lần
Để mai đây bị cấm trên hành tinh?
Lời đáp xa vời, để gió cuốn đi bên trời
Để gió cuốn đi, bạn ơi.

2. Được bao nhiêu năm tháng núi non kia còn lại
Rồi trôi đi theo nước ra biển khơi?
Bao nhiêu năm tháng chúng ta tồn tại
Để mai đây được tự do trên đời?
Và còn bao lâu nữa những ai kia quay mặt
Làm như không hay biết điều chi?
Lời đáp xa vời, để gió cuốn đi bên trời
Để gió cuốn đi, bạn ơi.

3. Mở to thêm đôi mắt ngước trông lên bao lần
Thì ta trông thấy trời cao?
Cần bao đôi tai nữa gắn thêm cho mỗi người
Để nghe tiếng khóc than muôn người?
(Và cần) thêm bao cái chết đến khi ai kia biết rằng
Bao nhiêu mạng sống đã bị hy sinh?
Lời đáp xa vời, để gió cuốn đi bên trời
Để gió cuốn đi, bạn ơi.

Trong bài có chỗ đặc biệt đáng chú ý, đó là từ "man" câu đầu tiên và điệp khúc. Một số người cho rằng "man" trong "How many roads must a man walk down/ Before you call him a man?" nên dịch là "con người".

Tôi cho rằng dịch như vậy cũng không sao, nhưng dịch là "đàn ông" sẽ hợp lý hơn nếu lưu ý rằng tác giả là nam, rằng bài hát được sáng tác vào đầu thập niên 1960, khi xã hội nam quyền còn mạnh. Nó gần với câu "Làm trai cho đáng nên trai/ Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng".

Về đọan điệp khúc, mới đây trên Facebook, dịch giả Trịnh Lữ đưa ra một các hiểu theo tôi rất thú vị: "Lời đáp đang thảng thốt trong gió đấy, bạn hãy lắng nghe, sẽ thấy..." Ông viết: "Triết lý sâu sắc của bài hát ẩn chứa ở lời điệp khúc này. Muốn giải đáp những hoang mang của đời, chỉ cần tĩnh trí lắng nghe hơi thở của trời đất, để mình nối liền lại với mạch sống của bản thể lớn, sẽ nhớ ra những lẽ phải trái, thật giả, thiện ác... và sẽ biết mình phải nương theo ngả nào trong mê cung của cõi người".

Đây là cách hiểu rất tinh tế, sâu sắc và thú vị, làm giàu cho bài hát. Nhưng theo tôi, cách hiểu này mang nhiều đóng góp cá nhân của Trịnh Lữ rất đáng trân trọng.

Bài Blowin' In The Wind được Dylan và Baez hát trước 250 ngàn người tại Cuộc diễu hành Washington (March on Washington) phản đối chiến tran và đòi quyền tự do dân sự ngày 28 tháng Tám, 1963. Trong cuộc diễu hành đó, Martin Luther King, Jr. đã có bài phát biểu I Have A Dream (Tôi có một ước mơ) nổi tiếng. Tôi tin rằng bài hát đã ít nhiều gợi cảm hứng cho Trịnh Công Sơn. Chính vì thế, tôi đã dịch nhan đề của nó bằng nhan đề bài hất của của Trịnh Công Sơn: Để gió cuốn đi.

Đến "Gõ cửa thiên đàng"

Việc dịch bài Knockin' On Heaven's Door (Gõ cửa thiên đàng), còn nhiều chuyện để bàn hơn. Nguyên văn bài hát như sau:

Knockin' on Heaven's Door
Mama, take this badge off of me
I can't use it anymore.
It's gettin' dark, too dark to see
I feel I'm knockin' on heaven's door.

Knock, knock, knockin' on heaven's door
Knock, knock, knockin' on heaven's door
Knock, knock, knockin' on heaven's door
Knock, knock, knockin' on heaven's door

Mama, put my guns in the ground
I can't shoot them anymore.
That long black cloud is comin' down
I feel I'm knockin' on heaven's door.

Knock, knock, knockin' on heaven's door
Knock, knock, knockin' on heaven's door
Knock, knock, knockin' on heaven's door
Knock, knock, knockin' on heaven's door
Một số người nghĩ rằng đó là một ca khúc phản chiến – và trên thực tế chúng ta cũng có thể và có quyền hát nó như một bài hát phản chiến. Tuy nhiên, Knockin' On Heaven's Door mới đầu được Bob Dylan sáng tác cho bộ phim miền Tây Pat Garett And Billy The Kid (1973). Đó là lời của một kẻ hấp hối nói với vợ, vì thế nó có thể được dịch – để hát - thành:

Gõ cửa thiên đàng

Bà nó tháo giúp chiếc lon ra giùm tôi
Tôi hết muốn mang trên vai mình
Trời đất đã tối như bưng ngoài kia
Tưởng như tôi đang gõ lên cửa thiên đường.

Gõ, gõ, gõ không thôi lên trời cao
Gõ gõ gõ mãi lên cửa thiên đường.
Gõ, gõ, gõ không thôi lên trời cao
Gõ gõ gõ mãi lên cửa thiên đường.

Bà nó ném súng ra sân đi giùm tôi
Tôi không bắn thêm một viên nào
Kìa những đám mây đen đang trùm lên
Tưởng như tôi đang gõ lên cửa thiên đường.

Gõ, gõ, gõ không thôi lên trời cao
Gõ gõ gõ mãi lên cửa thiên đường.
Gõ, gõ, gõ không thôi lên trời cao
Gõ gõ gõ mãi lên cửa thiên đường.

Nhưng ai có quyền cấm người nghe và người hát coi đó là một bài ca phản chiến? Tách ra khỏi bối cảnh của bộ phim, nó có thể là lời một người lính đang hấp hối nói với mẹ.

Khi đó, trong tiếng Việt, ta phải thay đại từ nhân xưng: "Má, tháo giúp chiếc lon ra giùm con/ Con hết muốn mang trên vai mình/ Trời đất đã tối như bưng ngoài kia/ Tưởng như con đang gõ lên cửa thiên đường" và, đoạn hai: "Má, ném súng ra sân đi giùm con/ Con không bắn thêm một viên nào/ Kìa những đám mây đen đang trùm lên/ Tưởng như con đang gõ lên cửa thiên đường..."

Chưa hết. Người ta thậm chí còn có thể dịch nó thành những lời giận dữ, thậm chí tục tằn hơn: "Đ. má, tháo giúp chiếc lon ra giùm tao/ Tao hết muốn mang trên vai mình/ Trời đất đã tối như bưng ngoài kia/ Tưởng như tao đang gõ lên cửa thiên đường..."

***

Sự đơn giản nhưng đa nghĩa khiến chúng ta buộc phải – và có quyền – lựa chọn những cách hiểu và các dịch khác nhau.

Tính đa nghĩa khiến ca từ của Bob Dylan khó hiểu, khó dịch, nhưng cũng là lý do khiến nó hay, giàu có. Nó cho phép chúng ta có nhiều quyền sáng tạo trong cảm thụ và làm cho việc dịch nó đem lại nhiều niềm vui thích.

Nhưng nghĩ cho cùng đa nghĩa cũng chính là đặc điểm chung của mọi kiệt tác: Khi không nói gì cụ thể, người ta lại nói được nhiều hơn. Văn học dân gian như thế, văn học bác học cũng thế. Từ đồng dao đến Kinh Thánh.

YBOOK.vn


    Hiện tại chưa có thảo luận nào về vấn đề này.
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
  • CÁC TIN BÀI KHÁC
  • Cái khó ló cái... tố!

    Cái khó ló cái... tố! (27/08/2012)

    Bài và ảnh Nguyễn Vinh | SGTT.VN

    Hai năm trở lại đây, thị trường sách rơi vào khó khăn do bị ảnh hưởng từ tình hình kinh tế chung. Có thể đo lường điều này qua việc điều tiết lại kế hoạch sản xuất của các công ty sách tư nhân. Nhưng trong khi nguồn sách được xuất bản trở nên dè dặt, thận trọng thì những vụ kiện tụng tác quyền giữa những đơn vị tư nhân lại diễn ra nhiều và có phần "đình đám" hơn.

  • Phong Hoá và những ước vọng xa vời

    Phong Hoá và những ước vọng xa vời (27/08/2012)

    TS Hoàng Văn Quang | SGTT.VN

    LTS: Sau bài viết trên Sài Gòn Tiếp Thị ngày 6.8: Những người mất cả vốn lẫn lời (xin nói lại cho đúng, bài viết của nhà văn Nghiêm Đa Văn ghi lại theo lời kể của chính mẹ ông), nhân kỷ niệm 80 năm phong trào Thơ mới và ngày thành lập tổ chức văn học Tự lực văn đoàn, toà soạn báo đã nhận được nhiều phản hồi từ bạn đọc, đa phần cảm ơn báo thông qua bài viết đã hé mở cho người đọc mối quan hệ lịch sử của những nhân vật lịch sử và mong muốn được biết thêm về chủ đề này. Chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu bài viết của TS Hoàng Văn Quang.

  • Người Việt Nam đọc bao nhiêu sách mỗi năm? (22/08/2012)

    Minh Châu | TIASANG.COM.VN

    Chưa có câu trả lời chính xác cho câu hỏi đó, bởi các thống kê về lượng sách tiêu thụ hằng năm không tính đến sách lậu bán vỉa hè và số lượt e-book lậu được tải về từ mạng.

  • Triết học - sự tinh khiết của ý chí

    Triết học - sự tinh khiết của ý chí (21/08/2012)

    Nguyễn Xuân Xanh | TIASANG.COM.VN

    Đọc Trò chuyện triết học của Bùi Văn Nam Sơn, (NXB Tri Thức và Công ty Sách Thời Đại) người ta có cảm tưởng đang bước lên những bậc thang ngày càng cao của "tháp ngà triết học", không phải để tách rời khỏi xã hội, mà để nhìn qua các cửa sổ thấy được thế giới nhiều hơn, xa hơn, và để trở lại hiểu xã hội nhiều hơn.

  • Thành phố không ký ức

    Thành phố không ký ức (25/06/2012)

    Trần Nhã Thụy | TUOITRE.VN

    Đã nhiều năm về trước, ký ức không còn nhớ rõ là ngày tháng năm nào, sổ ghi chép cũng lẫn lộn, thất lạc lung tung. Nhưng tôi còn nhớ một chi tiết về một sự kiện: khi những khối đá xanh bó các vỉa hè phố đường Thi Sách, Đồn Đất, Lý Tự Trọng... được đào lật lên để thay thì nhiều người dân Sài Gòn đã phản ứng.