GIỚI THIỆU SÁCH

  • Di cảo Lưu Quang Vũ Lưu Khánh Thơ Những trang nhật ký mơ mộng, lãng mạn đến những bài thơ xé rách đầy dằn vặt, đau xót tuyển từ di cảo của nhà thơ - nhà viết kịch Lưu Quang Vũ do PGS.TS Lưu Khánh Thơ biên soạn và tuyển chọn.
    ...
  • Về miền Ví dặm cùng em Cẩm Thạch "Thơ chị Cẩm Thạch không nhiều biến hóa, không phức tạp, và thi pháp theo lối thơ truyền thống. Nổi bật lên trong thơ chị là chất tâm tình, chia sẻ, với một giọng điệu ngợi ca hồn nhiên. Về ngôn ngữ thơ Cẩm Thạch rất giàu tính ca từ. Đọc thơ Cẩm Thạch, người ta thấy chị cũng thường hướng tới chủ đề mang tính thời sự. Những sự kiện nóng bỏng của đất nước như "biển đảo dậy sóng", như "chất độc màu da cam" thường khiến chị day dứt, trở trăng mà viết thành thơ. Và với bài thơ thời sự nào chị cũng muốn gửi gắm lòng mình cùng quê hương xứ sở. Và đặc biệt, khi "Ví Dặm Nghệ Tĩnh" được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại, chị viết cả loạt bài về câu chuyện này. Mỗi bài một vẻ, nhưng tựu trung là ngợi ca "di sản" của quê hương. Ai mang câu Ví dặmTrải đồng xanh mơ màngCon đường quê rợp bóngNgẩn ngơ ánh trăng vàngXanh xanh bãi ngô nonNeo lòng người xa xứƠi miền quê nghèo khó,Nơi cát bạc gió Lào Và cuối cùng là lời mời chân thành và tha thiết với mọi người: Về miền Ví dặm cùng em." Nghệ An, 06/08/2017 Nguyễn Trọng Tạo
    ...
  • Tiếng cười thơm sân trường Cẩm Thạch Tập thơ gồm hơn 50 bài của nhà thơ, nhà giáo Cẩm Thạch.
    ...
  • Dấu chân còn ấm hơi Người... Cẩm Thạch Dấu chân còn ấm hơi Người gồm 33 bài thơ của tác giả Cẩm Thạch. Tập thơ ra đời nhân 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. MỤC LỤC Cung đàn tính Núi rừng thương nhớ Bác Đêm bên lăng Bác Con vẽ hình của Bác Phan Thiết đợi Người Nôn nao mùa thu Dâng Bác Ấm mãi tình Cha Về quê Bác Tượng đài trong lòng Mường xa con đã về bên Bác Hồ Bộ đội Cụ Hồ Quê hương đón Bác Tết Lào trên quê hương Bác ...
    ...
  • Nỗi niềm Sao Mai Tâm tình với mọi người bằng thơ là sự chấp nhận từ một trạng thái tâm lý có khi buồn, vui – Khi thả lõng như mây phiêu bạt hoặc siết chặt đến đau đớn nghẹn ngào. Tôi bắt gặp tâm tình của nhà thơ Sao Mai qua các bài thơ tràn ngập cảm xúc, trên hành trình nhân sinh đầy thú vị:Từ Cần thơ chiều: Tôi chợt lẻ loi như khách lạ bên đườngNgơ ngẩn giữa hoàng hôn như lạc nguồn sữa mẹTôi già tự bao giờ mà Cần Thơ vẫn trẻVẫn chung tình đợi chiều xuống trăng lên! Nhà thơ bắt đầu một chuyến đi trong tất tả Nhịp đời: Chỉ mỗi hàng cây với mỗi tôiVới dòng sông lạnh với đơn côiVới câu hò lửng buồn như khócVới mái chèo thưa khuấy nhịp đời! Chưa ra khỏi vòm cây, bóng lá in đậm sắc chiều, lòng người ly hương như bồi hồi, tiếc nuối một quá khứ tự tại, nhẹ một nỗi hờn trách mà chẳng cần ai biết, ai hay, nên đành Gửi nắng qua sông: Chiều em gửi nắng qua sôngLá tình thắm nhớ nhuộm lòng bay theoChiều nay nỗi nhớ trong veoLồng phiên ảnh thuở lội đèo trèo sôngChiều nay sóng rát bến mongDập duềnh chiếc lá nẩy lòng nhớ ai! ... Tập thơ Nỗi niềm với 65 bài dài, ngắn qua các thể loại và phong cách, khó giới thiệu hết được trong một khuôn khổ nhất định, nhưng tin rằng: không phải một tuyển tập này thôi, chắc chắn còn bắt gặp Sao Mai trong nhiều thi phẩm nữa. Với dòng chảy này, Sao Mai sẽ từng bước đạt được ước mơ: làm thơ là vắt sữa cho đời. Đông NguyênHội viên Hội nhà văn TPHCM
    ...
  • Lục bát ru em Lam Giang Gần 50 bài thơ với độc nhất thể loại lục bát, tác giả Lam Giang ghi lại tâm tư, cảm xúc của mình qua những nơi chốn đặt chân đến, một "Đêm mưa Hà Nội", "Một sáng sông Tiền", "Một lần phố cổ", rồi "Thung lũng Tình Yêu", "Tuyền Lâm", "Tháp Bà", "Nha Trang có biển", v.v.. qua những cỏ cây hoa lá "Bất chợt hoa xoan", "Gặp lại hoa đào" hay chỉ là một "Cuối chiều" vẻn vẹn với 6 câu: Cuối chiều ngày hết rồi emKhép căn phòng lại, đi tìm nàng thơTặng mình một thoáng vu vơTặng em chắc cũng hững hờ phôi phaiThôi thì gửi tặng gió mâyCho mình còn một chút say với nhiều. Mỗi bài những đề tài khác nhau, nhưng một điểm chung là sự xuất hiện của nhân vật "em" trong hầu hết tất cả tác phẩm. Dường như đó là nguồn cơn, là cảm hứng và cũng là người mà Lam Giang muốn gửi gắm những vần thơ... Lục bát ru em! MỤC LỤC Đêm mưa Hà Nội Bất chợt hoa xoan Chiều ba mươi Viếng chùa Gặp lại hoa đào Ghé thăm mình Trong thung lũng Tình Yêu Tuyền Lâm Tháp Bà Nha Trang có biển Với hòn Chồng Một lần phố cổ Cần Thơ Đêm Rạch Giá Biển ru Một sáng sông Tiền ...
    ...
  • Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ Phạm Sỹ Sáu Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu.[...] Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh.[...] Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Đoạn rời ở suối Thmey Từ một tin đồn Mắc võng trong rừng le Ghi thư trên đường hành quân Trận địa Thôpjăng Run sống và chiến đấu Đêm trăng trên chốt 4 Ở điểm cao 194 (chốt 2) Đêm trăng ở rừng dầu Kratie Đêm giao thừa ở biên giới Tây K Lục bát Palin Hành quân về Amleng Chiều mưa Poi Pet ...
    ...
  • Điểm danh đồng đội Phạm Sỹ Sáu Hãy sắp hàng vào cho tao điểm danhNhững thằng lính ở miền xa rất trẻHãy sắp hàng vào để nghe tao kểChuyện đánh nhau và chuyện... yêu nhauA! Có thằng nào còn mang băng trắng trên đầuTiến một bước, nếu thấy còn chỗ trốngĐừng băn khoăn nếu có thằng hy sinh và thằng...chạy trốnCòn lại tụi mình thì vẫn cứ thương nhauHãy vì nhau mà đừng để lòng sầuBởi cái chết chẳng thể nào tự đến.... Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử? Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khác biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã từng rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời Tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc Tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. ...Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh... Chiến tranh không phải trò đùa càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22.1.2005Nguyễn Hoàng Sơn   MỤC LỤC Bài hành tráng sĩ mới Nghe chim "bắt cô trói cột" giữa rừng Mê-lai Buổi sáng Không chỉ là mặt trận Thơ viết ở Âm-pin Bà má Miền Tây Trăng giữa rừng Ở phương nầy Tiễn đưa Với miền Tây Bắc-xa Chia tay đồng đội Nợ Kỷ niệm xôn xao Trong vườn xoài Pre-nét Pre Mùa mưa đời lính đi qua Theo mùa xuân vào Pai-lin Tiếng tắc kè Trước đền Ăng-co ...
    ...
  • Ra đi từ thành phố Phạm Sỹ Sáu Ra đi từ thành phố đạt giải nhất thơ Cuộc vận động sáng tác Văn Học kỷ niệm 40 năm thành lập nước do Hội Nhà Văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức năm 1986. Tập thơ ngoài bản trường ca mà tác giả lấy tên đặt cho cả tập còn có 5 bài thơ khác nữa. Tuy nhiên, có thể xem các bài thơ ấy là sự bổ sung, sự tiếp nối bản trường ca vốn mang nhiều tâm huyết của anh. Phạm Sỹ Sáu dành vị trí danh dự cho bản trường ca Ra đi từ thành phố. Trường ca là thể tài được nhiều nhà thơ sử dụng khi cần thể hiện cảm hứng công dân trong một dung lượng lớn mà một vài bài thơ không chứa nổi. Cho đến giờ, ở ta, ít có những trường ca thuần khiết. Đó là lý do trường ca trên thực thế được coi là trường thi (thơ dài). Nói thế để thấy rõ vai trò đặc biệt của chất trữ tình trong cái gọi là trường ca ở ta. Trong trường ca có kể, có tả song câu chuyện và hình ảnh phải thấm đậm cảm xúc, suy tư. Tiếc là chất trữ tình trong nhiều đoạn của tập thơ chưa thật tương xứng. Đôi đoạn còn sa vào kể lể dài dòng. Bản trường ca chưa gây được ấn tượng thật mạnh, thật sâu là vì thế. Giá có nhiều đoạn như đoạn sau thì sự thể có lẽ sẽ khác: Nhận đồng hương chút cho vuiNghe em nói, thấy em cười, thế thôiTrao kỷ vật dưới chân đồiNụ hoa tím nói thay lời... chia tay Mỗi câu, mỗi từ đều nồng ấm cảm nghĩ. Chính cái chất trữ tình này đã làm say cuốn người đọc trường ca. Cũng cần đòi hỏi cao hơn sự tinh luyện của câu chữ. Chớ nên để tồn tại những câu thơ thiếu sức ngân vang như câu này: Chưa biết hoa gì có làn hương thoảng qua từng chặphương thoảng qua mà xốn xang trong lòng Cũng chớ nên để ngôn từ thành hàng rào ngăn chắn cảm xúc của người đọc như từ "tao ngộ" trong trường hợp sau:lần đầu tiên chúng tôi bị độngtrước kẻ địch lẩn nhanh như sócchút tao ngộ cho chúng tôi bài học Những hạt sạn như thế không nhiều, song không phải là không đáng nói, nhất là với những cây bút có nghề. Dẫu sao Ra đi từ thành phố cũng là một đóng góp qúy giá của Phạm Sỹ Sáu vào dòng thơ viết về chiến tranh và người lính. Tác giả đã chọn cho mình một giọng điệu riêng khá thích hợp nhằm dựng lại chân dung tinh thần của người cầm súng trong cuộc chiến mới của dân tộc mà cho đến giờ còn ít được thể hiện trong thơ. Những cơn mưa đi vào lòng thành lửaCháy không nguôi những kỷ niệm chiến trường Xin cảm ơn ngọn lửa trong thơ anh đã góp phần thắp lên ngọn lửa trong lòng bạn đọc chúng ta. Người lính "Ra đi từ thành phố", Đà Lạt, 21-6-1995   MỤC LỤC Ra đi từ thành phố (Trường Ca) Chiến sĩ mới Đến với biên giới miền Đông Nhìn lại Kỷ niệm về những con người Kỷ niệm về những địa danh Hành tráng sĩ mới Tiễn đưa Cảm xúc trước một tượng Bay-on không nguyên vẹn Mùa mưa đời lính đi qua Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ
    ...
  • Thơ với tuổi thơ Phạm Sỹ Sáu Tráng sĩ không bơi qua sôngTráng sĩ đi bằng đường khôngTráng sĩ đi bằng xe kháchTráng sĩ lên đường lòng hề mênh mông, mênh mông Không là Kinh Kha ngày xưa qua sông DịchKhông là thở than của khúc Tống biệt hànhTráng sĩ chừ qua sông, qua sôngSống vỗ mạn phà hề sóng vỗ Nói đến các thi sĩ mặc áo lính sau năm 1975, không thể bỏ qua Đoàn Minh Tuấn, Lê Minh Quốc và Phạm Sỹ Sáu. Không có các tác phẩm đôi khi còn thô mộc của họ, cả một cuộc chiến tranh đằng đẵng mười năm với bao nhiêu chiến công, bao nhiêu mất mát và còn để lại thương tật trên cơ thể và trong tâm hồn nhiều thế hệ... có cơ mất hút trong văn học sử. Cũng là những tác phẩm sinh ra trong chiến tranh, từ chiến tranh nhưng thơ họ khác với thơ bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ, càng khác với thời chống Pháp và cũng khu biệt với những người đồng ngũ, đồng thời trên biên giới phía Bắc. Dấu chân người lính tình nguyện Việt Nam đã rải khắp các chiến trường Đông Dương từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn, muốn áp đặt trở lại ách thuộc địa đáng phỉ nhổ. Rồi bom đạn của mấy đời tổng thống Mỹ một lần nữa lại xóa nhòa những đường biên giới trên bán đảo. Cuộc chiến bất đắc dĩ sau năm 1975, thoạt tiên ở biên giới Tây Nam rồi thêm biên giới phía Bắc tổ quốc là một trong những sự phản trắc bất ngờ và đau đớn nhất mà người Việt vốn thiết tha với hòa bình phải nghiến răng gánh chịu. Trong một lần lên điểm tựa Chi Ma (Lạng Sơn) đọc thơ, Phạm Sỹ Sáu thông cảm với những gian nan dường như là số phận của đời lính ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời nào: Mười năm chiến trường trộn vào câu chuyệnHòa lẫn tiếng lòng nỗi nhớ tình yêuLính biên giới hướng nào gian khó cũng nhiềuCũng thừa muối thiếu rau những bữa cơm điểm tựa. Nhưng phải chăng lính tình nguyện ở Campuchia thiệt thòi, vất vả hơn? Các anh ở đây có thông làm chỗ tựaCó câu hát sli lượn như sóng Kỳ CùngCác anh ở đây có dân bản Tày NùngCó tiếng Việt kết câu bằng chữ vớ. Kết bằng chữ gì thì vẫn cứ là tiếng Việt, để người cầm súng yên tâm rằng mình đương được Đất Mẹ chở che Các anh hạ sơn gặp con suối cạn/ Có hoa sim tím, có trẩu, có mua/ Gặp cơn gió lùa nhanh qua hẻm núi/ Gặp hương đất nước trong bài dân ca. Bài thơ viết năm 1987. Từ biên giới Lạng Sơn "Trở lại Tây Bắc K", tiếp tục những ngày chiến trận bên ngoài biên giới Tổ quốc, tâm hồn Phạm Sỹ Sáu như trĩu nặng thêm Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn bao nhiêu thằng nằm lại/ Mà vinh quang - chùm con chữ dư thừa. Một cái chép miệng chua chát đôi khi trở thành giận dữ trước bao điều ngang tai trái mắt của thời kì "tranh tối tranh sáng" mà người lính dù ở xa ngàn dặm vẫn phải gánh chịu, không thể dửng dưng. Giữa những ngày mùa mưa không mưa/ Tôi trở lại vùng Tây Bắc xưa/ Nơi bè bạn cứ đêm ngày trăn trở/ Về sự hy sinh/ Về tốc độ mất giá của đồng tiền/ Về những điều thiêng liêng và đốn mạt/ Chiến tranh đâu phải là canh bạc/ Mà người lính nào cũng tin vào hên xui. Đến những bài thơ viết cuối thập niên 80, Phạm Sỹ Sáu đã vượt qua sự hồn nhiên, kể lể để đi dần đến những kết tinh có tính khái quát, mang nặng suy tưởng, chiêm nghiệm. "Thơ tặng chiến sĩ vô danh" viết sau ngày bộ đội tình nguyện Việt Nam hoàn thành lộ trình rút quân khỏi Campuchia là một bài thơ hay, đa nghĩa. Có một chút hờn dỗi trong những câu này Cuộc chiến tranh đã đi qua/ Sau những hội hè lễ đón/ Thiên hạ cứ yên tâm đã làm trọn/ Những gì cần làm đối với người lính tình nguyện Việt Nam. Nhưng nhiều hơn những chống chếnh, lo lắng mơ hồ, tưởng như vô lí nhưng rất thành thực, chỉ những ai từng đi qua chiến tranh mới cảm nhận được. Nhà thơ nói về những người đã ngã xuống hay nói về chính thân phận những người lính hậu chiến? Không có chiến tranh/ Không có quân tình nguyện/ Mỗi mình anh trò chuyện/ Cùng đêm và ngày nơi xa.../ Tổ quốc cũng là anh/ Người lính độc hành trong từng hơi thở/ Đêm và ngày không tỏ/ Anh - một mình/ hy sinh/ Không đồng đội - không bạn bè/ Anh một mình cùng tiếng nói/ Nghe từ xa, rất xa. Đọc Phạm Sỹ Sáu, đúng là phải đọc "bằng tâm hồn người lính" như lời đề nghị của chính anh. Ở chặng thơ đầu thập kỷ tám mươi, bài thơ sẽ còn được in lại dài dài là "Bài hành tráng sĩ mới", một thành công đột xuất giữa rất nhiều bài bình thường trong tập thơ dày tới hơn hai trăm trang "Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ". Nhà thơ, nhà phê bình văn học Hoài Anh coi đây là bài thơ "nhại" lại Tống biệt hành nổi tiếng của Thâm Tâm bằng cách "đối chiếu với các hoàn cảnh thường ngày và lịch sử của nó". Thời chống Mỹ, trong những bài thơ đầu đời lính, Thanh Thảo đã làm điều đó trong "Bài ca ống cóng". Những tráng ca thuở trước/ Còn hát trong sách tôi/ Những thanh gươm yên ngựa/ Giờ đã cũ mèm rồi/ Bài ca của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời... Sự lặp lại thủ pháp này của hai thế hệ thơ cách nhau mười năm một phần là do sự trùng hợp của hoàn cảnh và tâm trạng: những thanh niên có học, khi đối diện với thực tế trần trụi của chiến trường đã tự rũ bỏ những ảo tưởng hiệp sĩ nhiễm từ lớp lớp trang thơ cổ. Chiến tranh không phải trò đùa, càng không phải cơ hội cho ai đó làm dáng trong mắt thiếu nữ! Phạm Sỹ Sáu, cũng như Lê Minh Quốc, Đoàn Minh Tuấn..., đã nhìn chiến tranh biên giới Tây Nam như nó vốn có, bằng đôi mắt người lính, không tô vẽ. Đó là đóng góp của các anh, là văn học đích thực, điều cần phải được khẳng định trước khi đưa ra những đòi hỏi duy mĩ mang màu sắc kinh viện. 22/1/2005 Nguyễn Hoàng Sơn MỤC LỤC Lời giới thiệu Trăng thượng tuần ở Poi Pét Ca-chiu-sa giữa rừng Chia tay cửa rừng Kỷ niệm xôn xao Điều bất thường bình thường Gởi bạn bè chiến trường ở Âm-pin Đọc thơ ở điểm tựa Chi Ma Trở lại Tây Bắc K Thơ tặng chiến sĩ vô danh Lính rừng sâu Cũng đành Ở phương này Tiếng tắc kè Gửi bạn bè làm xong nghĩa vụ Bài hành tráng sĩ mới Bài thơ xanh Tự thú trước đền Angkor Một chút ngày Giêng
    ...
  • Khúc ca đồng đội Phạm Sỹ Sáu Khúc ca đồng đội xuất bản lần này như một lời tri ân, như một niềm hồi tưởng dẫu có muộn màng. Chiến tranh biên giới Tây Nam đã bước vào kỷ niệm tuổi 30 mà gương mặt đồng đội ngày xưa qua điểm danh sao vẫn còn thiếu vắng. Xin bắt đầu chiến dịch mới - chiến dịch thăm lại chiến trường xưa - bằng khúc ca của những ngày gian khó. Hy vọng Khúc ca đồng đội sẽ là món quà nhỏ trong hành trang trở lại nơi bắt đầu hoặc bắt đầu từ một nơi sẽ trở lại – Campuchia. Sau ngày 26.09.1989 – ngày người lính tình nguyện Việt Nam cuối cùng rời khỏi Campuchia trở về Tổ quốc, tôi may mắn có được ba lần trở lại đất nước Ăng ko - một lần bằng đường không và hai lần bằng đường bộ. Từ trên máy bay nhìn xuống hay từ mặt đất nhìn ngang, ở đâu tôi cũng bắt gặp những hình ảnh thân thương, tường chừng như máu thịt. Những dòng sông con suối, những cánh rừng phum làng, những ngọn núi cánh đồng - tất cả thật thân quen, thật gần gũi. Sự xa cách về địa lý chính trị dường như không còn nữa khi tôi có dịp đi qua những phum làng một thời chưa xa tôi và đồng đội đã có dịp đặt chân qua. Một thời tuổi trẻ chúng tôi đã chen vai sát cánh cùng quân và dân Campuchia bảo vệ cuộc sống yên bình trong phấp phỏng chiến tranh và bất an rình rập. Một thời mà mỗi bước tiến công là những hy sinh mất mát, nhiều đớn đau lo âu. Giờ đây có dịp trở lại những vùng đất của một thời trong khung cảnh hòa bình thật sự, bên cạnh những người-còn-lại-may-mắn cùng gia đình, tôi mới cảm nhận đầy đủ giá trị của những năm tháng chiến đấu giữ nước từ xa và giúp bạn là tự giúp mình. Mỗi chặng đường qua, mỗi ngày vừa tới trên hành trình trở lại, tôi cảm nhận đầy đủ hơn tiếng gọi bạn bè. Trong mênh mông đồng lúa, trong nhộn nhịp phố thị, trong tĩnh lặng phum xa, trong uy nghiêm đền tích... đâu đâu tôi cũng cảm nhận những ánh mắt trìu mến thân thương của những đồng đội đã khuất của mình. Phạm Sỹ SáuĐầu mùa mưa 2008
    ...
  • Thơ trong sổ tay bạn trẻ Trần Đồng Minh Cái ngày cô chưa có chồngĐường gần tôi cứ đi vòng cho xaLối này lắm bưởi nhiều hoa...(Đi vòng để được qua nhà đấy thôi).Một hôm thấy cô cười cườiTôi yêu yêu quá nhưng hơi mất lòngBiết đâu rồi chả nói chòng:"Làng mình khối đưa phải lòng mình đây!"Một năm đến lắm là ngàyMùa thu mùa cốm vào ngay mùa hồngTừ ngày cô đi lấy chồngGớm sao có một quãng đồng mà xa.Bờ rào cây bưởi không hoaQua bên nhà thấy bên nhà vắng teoLợn không nuôi, đặc ao bèoGiầu không dây chẳng buồn leo vào giànGiếng thơi mưa ngập nước trànBa gian đầy cả ba gian nắng chiều Qua nhà - Nguyễn Bính Trước mặt bạn, trong tay bạn là những bài thơ tuổi xanh yêu thích. Một số bạn yêu thơ, làm thơ và nhiều học sinh lớp chuyên trường PTTH Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa (TP. Hồ Chí Minh) đã nhiệt tình góp nhặt. Không ít bạn chép kín năm, bảy trang thơ hằng ấp ủ. Có những bạn nêu ra đôi, ba bài đặc sắc bất ngờ. Vui mừng biết bao, truyền thống thơ của nước nhà vẫn chảy mạnh trong tâm hồn trẻ. 91 áng thơ chưa thể tập hợp hết lời ca, tiếng nói trái tim đã ngân rung bao đời nay. Có lẽ xin hẹn ở các tập tuyển tiếp. Ở đây là những bài thơ được các bạn trẻ yêu thích sưu tầm và tập hợp lại. Nhiều tác giả trẻ, họ mới cầm bút nhưng được đông đảo bạn đọc yêu mến.
    ...
  • Xôn xao đầu hạ Trần Thanh Chương Hành quân qua đỉnh đèo NgangPhút giây bỗng thấy mơ màng cõi tiênGiơ tay với áng mây mềmBước chân xen tiếng êm đềm sóng khơiLâng lâng cánh gió ru hờiNơi đây Non - Nước - Biển - Trời gặp nhau...Khuất xa đèo tự lúc nàoVẫn còn tiếc giấc chiêm bao đỉnh đèo. Trích "Một thoáng đèo Ngang" - Xôn xao đầu hạ Cuộc sống sôi động của người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã làm người bác sĩ quân y Trần Thanh Chương có nhiều rung cảm, nhiều trải nghiệm đáng quý. Chất lính, chất tình hài hòa, bay bỗng, quyện với chất triết luận sâu sắc tạo cho thơ Trần Thanh Chương vừa hiện thực, vừa lãng mạn, rất đời thường mà vẫn gợi mở nhiều tình ý sâu xa. 42 bài thơ được viết trong khoảng thời gian từ 1971 - 2007, là những giãi bày, những niềm vui, nỗi buồn, niềm hy vọng, sự khát khao vẻ đẹp của con người và cuộc sống. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Xôn xao đầu hạ - Tập thơ đầu tay của bác sĩ Trần Thanh Chương - một người nặng tình với thơ. MỤC LỤC Ước Một thoáng đèo Ngang Tết Lời ru vùng ven Giấc ngủ ở hầm chữ A Tưởng chiêm bao Hoa khế Sông Yên Đợi Gió ru Lên Tây Bắc Ngu ngơ Nghiêng Thử thách Lãng mạn Lục bát lời ru Lặng lẽ phù sa Cảm xúc Di Linh Em gì ơi! Tâm sự nghề y Giữa phố Sài Gòn Vào Phương Nam Một góc Điện Biên Nắng Cần Thơ Vũng Tàu ...  
    ...
  • Chia tay cửa rừng Phạm Sỹ Sáu Chia tay cửa rừng là tập thơ của Phạm Sỹ Sáu gồm hầu hết những sáng tác đã viết trong thời gian tác giả là người lính chiến đấu ở biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Một ít bài được viết trong thời gian đi thực tập ở biên giới phía Bắc năm 1986-1987. Có thể nói đây là bộ sưu tập những bài thơ nổi tiếng của Phạm Sỹ Sáu đã từng được công bố trên các phương tiện truyền thông, tạo nên mối cảm thông sâu sắc với người hậu phương trong giai đoạn đất nước vừa có hòa bình lại vừa có chiến tranh. Đây là tập thơ được trao Giải B viết về đề tài Lực lượng Vũ trang nhân dân của Bộ Quốc Phòng Việt Nam giai đoạn 1999-2004, Giải thưởng Văn học Sông Mêng lần thứ 2 tại Phnom Penh, CPC năm 2009. Bản xuất bản lần này có chỉnh sửa và bổ sung cho đúng những địa danh thực tế.
    ...
  • Khi ta còn có trái tim Trương Tâm Trong Khi ta còn có trái tim có những bài thơ Trương Tâm viết về các sự kiện chính trị gần đây: từ tình hình Nước Nga hậu Xô Viết, ông Putin được bầu làm tổng thống đến vụ ám sát bà Benazir Bhutto hay cuộc chiến kéo dài ở Palestine khiến những con người mất nước phải chui rúc trong những tổ rơm. Có những bài thơ lại là lời nhắn gửi của tác giả đến với những con người xung quanh: từ đứa con gái thân yêu đang "học tập" ở "trường đời" đến những đứa cháu được sinh ra trong hòa bình; cho đến những người bạn học thân thiết, những người đã từng cùng ông chiến đấu, những người đã yên nghỉ, những cô bé, cậu bé, chị, anh, em ông tình cờ gặp trên đường,.. Và cũng có những bài thơ là sự kết hợp giữa tinh thần Phật giáo với văn hóa nhân loại. Với tập thơ Khi ta còn có trái tim, Trương Tâm đã phục hoạt những giá trị tâm linh và định hình những cảm xúc có tính lịch sử của con người trong cuộc sống trên cả ba bình diện: cá nhân, dân tộc và toàn cầu. MỤC LỤC Cùng một tác giảLời mở đầuLời cảm ơn đặc biệtPhần 1 - Cho hoa sen nở giữa trái tim người Vấn nạn 1: Trần thế hay Niết bàn Giảng đường, giờ giới nghiêm 1963 Lửa Bồ Tát Tiếng chuông chùa Theo mẹ lên chùa Dâng hoa cúng Phật Ngày tắm Phật Công án Phật Biện chứng Kim Cương Nằm mơ nghe Phật thuyết pháp Hoa vô thường Khi ta còn có trái tim Chào em chân tánh đóa sen hồng Ngọn lửa hồng tôi sẽ đốt Tôi, tình yêu và lộ trình đi về cõi chết Tôi là một hạt bụi Đi tìm Thượng Đế Vịnh bức tranh cây bách do Minh Châu vẽ Tự tình 74 Tử sinh Phục sinh Vô thường, viết cho bạn bè đã chết Đêm thiền Phần 2 - Tâm thức dân tộc Vấn nạn 2: Tồn tại hay hủy diệt Tuyên ngôn độc lập Cô du kích Củ Chi Hát giữa biển, trời Nói với các cháu Đọa đầy Con đi học ngày đất nước đổi thay Đưa con về thăm quê nội Ngày đầu tiên đứng lớp Cảm nghĩ nhân ngày gặp bạn ở quê người Lâm, hãy yên nghỉ Khóc bạn Tưởng nhớ Trịnh Công Sơn Tiên ông xuống đời Tôi đi tìm lại hồn dân tộc Phần 3 - Tâm thức toàn cầu Vấn nạn 3: Toàn cầu hóa hay thống trị Thơ như niềm công phẫn lịch sử Biển, trời của ai Cảm xúc biển Thư gửi người con gái Palestine Đen và trắng Cảm thông về cái chết của bà Benazir Bhutto Aung San Suu Kyi, người đàn bà đứng sau khung của trại giam Về nước Nga hậu Xô Viết
    ...
  • Vườn mộng Thanh Yến Nữ thi sĩ Thanh Yến thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau năm 1975. Tuy sinh sau đẻ muộn nhưng với khát vọng và sự sáng tạo bền bỉ âm thầm, Thanh Yến đã làm nên tên tuổi của mình trên thi đàn Việt Nam với nhiều tập thơ có giá trị như: Miền trăng lạ, Khoảng khắc vườn thu, đặc biệt hơn cả là tập thơ Vườn Mộng. Thơ cô là những con chữ mượt mà, mang nặng một nỗi niềm day dứt, giàu chất suy tư và trải nghiệm với đời như thế này: Thôi thế từ nay trót lỡ làng Tình mình hẹn lại đến mùa sang Dấu kín vào thơ dòng tâm sự Giận người em giận cả thời gian (trích Giận người giận cả thời gian) Đâu đó còn mấy bài thơ cô viết tặng người con trai tài hoa nhưng yểu mệnh của mình với trái tim bao la của người mẹ. Với những ngày tưởng như êm ả Lại là tột đỉnh của đau thương Căn phòng bệnh lên màu trắng xóa Còn thều thào dư ngữ lúc lâm chung "Nhớ em, thương cha, nát lòng đau nghĩa mẹ" Đôi tay này mẹ bất lực nhìn con! (trích Xa con mãi mãi) Vào Vườn Mộng xin bạn nghĩ thật khẽ, để nghiệm ra những âm thanh dịu nhẹ của một cõi thi ca...  
    ...
  • Có hai dòng văn chương Hải Như Sách gồm hai phần. Phần một: Thơ; Phần hai: Tản văn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
    ...
  • Làng ta

Du Tử Lê: 'Văn chương cứu rỗi tôi trong những ngày luân lạc...'  


Nhà thơ Du Tử Lê - Ảnh: TRIẾT TRẦN

Nguyễn Vĩnh Nguyên | TUOITRE.VN

Du Tử Lê là thi sĩ Sài Gòn được công chúng biết đến qua những bài thơ tình được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhưng Du Tử Lê không chỉ có thơ tình.

Cũng như nhiều thi sĩ trong thời đại mình, thơ ông còn là phóng chiếu một giai đoạn đầy xáo trộn trong đời sống văn hóa của người Việt. Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.

* Thưa nhà thơ Du Tử Lê, thơ của ông đã là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Trần Duy Đức... phổ nhạc, tạo ra những tình khúc bất hủ.

Nhìn rộng ra, hình như đã có một thời đoạn, trong không gian văn hóa Sài Gòn, nghệ sĩ ở các lĩnh vực khác nhau đã có sự tương tác sáng tạo mật thiết để tạo ra những tác phẩm tinh hoa?

- Vâng. Đúng như ghi nhận của ông: trong "không gian văn hóa Sài Gòn" một thời, các nghệ sĩ ở nhiều lĩnh vực khác nhau đã tìm đến sáng tác của nhau, hầu hợp thành những tương tác sáng tạo mật thiết. Ngay cả khi họ không hề thân quen, hay ít có cơ hội thường xuyên đi lại với nhau.

Ta gọi nhau từ vực, vực khuya

Sớm mai thức, thức xanh: mưa, nắng. ngọn cỏ đau / từ những thị phi / tôi trong tôi rụng: / mùa thay lá / xót / xót rừng khô. / chim hồ nghi / chia tay / như gió / quên che mặt ta gọi nhau từ vực, vực khuya người trôi, trôi những ngày neo bão đìu hiu / tôi / một cõi hư vô.

cánh cửa. bức tường. thân thế, muộn. vết răng găm xuống nỗi buồn, sâu.vai xuôi địa ngục hân hoan, cháy. ngọn lửa / vô tình / kiếp , kiếp sau?

10-2017

* Ấy là bởi một "tâm tính văn nghệ" theo "kiểu Sài Gòn" nói chung, hay chỉ là từ những giao cảm, tình thân riêng có giữa những cá nhân?

- Như tôi đã nói, cái mà ông gọi là "không gian văn hóa sáng tạo" đó không hề có từ những giao cảm, những tình thân riêng, mà nó là một trong những nét đặc thù của sinh hoạt văn học, nghệ thuật ở miền Nam trước đây.

Tôi thí dụ, trước khi soạn thành ca khúc Ngậm ngùi thơ Huy Cận, nhạc sĩ Phạm Duy không hề quen biết tác giả Lửa thiêng.

Cũng vậy, nhạc sĩ Phạm Đình Chương chưa hề gặp nhà thơ Quang Dũng đã rất thành công khi gom hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng để làm thành ca khúc Đôi mắt người Sơn Tây...

Tuy nhiên, tôi cũng không loại bỏ trường hợp một số người làm thơ thuê (trả tiền) cho nhạc sĩ, để nhạc sĩ đó soạn thành ca khúc thơ của họ, dù giữa hai người có tình thân với nhau hay không.

Nhưng tôi chưa thấy một ca khúc nào ra đời trong hoàn cảnh như vậy được nhiều người biết tới; dù cho nhà thơ kia, sau đó, có bỏ tiền thuê ca sĩ hát hoặc làm thành băng nhạc...

Ít người biết rằng trước khi phổ nhạc bài thơ Khúc Thụy Du của tôi, thì tôi và nhạc sĩ Anh Bằng không hề biết nhau. Tôi từng kể, lần đầu tiên khi nhạc sĩ Anh Bằng tìm tôi, tôi đã hỏi: "Ông là ai, gặp tôi có việc gì không?...", trước khi chúng tôi có được với nhau cái giao tình phải nói là tốt đẹp trong tinh thần tương kính.

Sự kiện này cũng xảy ra cho tôi và nhạc sĩ Trần Duy Đức. Trước năm 1975, Trần Duy Đức ở Pleiku, tôi ở Sài Gòn. Anh đọc thơ tôi trên tạp chí Văn. Không hề liên lạc với nhau, dù qua thư từ. Anh soạn thành ca khúc, những bài thơ anh thích...

Mãi tới năm 1983, ở Cali, anh ấy mới tìm tôi và cho biết đã phổ thành ca khúc khá nhiều bài thơ của tôi, từ trước năm 1975.

* 50 bài thơ trong thi tuyển Khúc Thụy Du lần này do ông chủ động chọn lọc, có thể thấy rõ hai nhánh quan trọng trong sự nghiệp thi ca của ông: thơ tình và thơ thế sự. Sự trở lại với người đọc lần này, bằng thi tuyển này, có ý nghĩa thế nào với cá nhân ông?

- Thi tuyển Khúc Thụy Du của tôi là một nỗ lực rất đáng ghi nhận trong tình cảnh tế nhị của sinh hoạt văn chương Việt Nam hiện tại, mặc dù trước đây, hai tập thơ của tôi là Giỏ hoa thời mới lớn (2013) và Mẹ về Biển Đông (2017) từng được ấn hành trở lại trong nước.

Lại nữa, trong luận án tốt nghiệp văn bằng thạc sĩ bộ môn lý luận phê bình văn học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, tựa đề "Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật" (mã số 60 22 01 20), tác giả Trần Thị Như Ngọc cũng đã nhấn mạnh rằng cõi thơ Du Tử Lê còn rất nhiều lĩnh vực cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thêm... thì hôm nay thi phẩm Khúc Thụy Du ra đời đem đến cho người đọc khía cạnh thơ thế sự bên cạnh nhánh thơ tình của tôi. Dù thoáng nhẹ, nhưng với tôi, nó vẫn là một gợi mở tiếp cận, rất hữu ích...

Bìa sách Khúc Thụy Du

* Là một trong năm nhà thơ hàng đầu của Sài Gòn (bên cạnh Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đức Sơn), và đến nay vẫn còn sáng tác khá đều (đăng tải trên trang dutule.com), xin ông chia sẻ về ý nghĩa của sáng tạo thơ ca trước đây và bây giờ có gì khác biệt, theo trải nghiệm cá nhân?

- Tôi quan niệm, mỗi cá nhân trước khi sinh ra đã được Thượng đế chọn trước một nghề nghiệp hay công việc thích hợp. Điều mà chúng ta gọi một cách nôm na là năng khiếu hay "cái khiếu". Cá nhân, tôi nghĩ tôi sống sót được tới ngày hôm nay nhờ tình yêu văn chương.

Trước đây khi còn ở trên quê hương, tôi không thấy văn chương thực sự "cứu rỗi" tôi như những năm tháng tôi luân lạc xứ người... Vì thế, tôi tự nhủ, hãy viết, cứ viết cho tới ngày nào sức khỏe, khả năng không còn cho phép.

* "Khả năng", có thể hiểu theo nghĩa nào, thưa ông?

- Tôi sẽ nói rõ hơn một chút. Khi dùng hai chữ này, với tôi, nó mang ý nghĩa: ngày nào thấy mình không còn cái gì mới (nội dung hay hình thức) tôi sẽ ngưng viết. Tấm gương lớn nhất của tôi là sức làm việc của nhà thơ R. Tagore (Ấn Độ).

Ở được bền lâu với chữ - nghĩa, tôi thấy hình như tôi "chín" hơn nhiều so với những năm tháng trẻ tuổi.

* Nếu có một cuộc đối thoại với người đọc trẻ hôm nay yêu mến thơ ông, điều quan trọng mà ông muốn chia sẻ với họ sau những bài thơ là gì?

- Câu nói đầu tiên với họ là lời cảm ơn chân thành của tôi. Tôi sẽ nói rõ hơn với họ rằng, tôi e sẽ không còn có một Du Tử Lê hôm nay nếu không có họ.

Và, một điều nữa, quan trọng không kém là dù ở tuổi nào thì các bạn trẻ của tôi cũng hãy dành một góc (dù nhỏ) tâm hồn cho thi ca. Tại sao? Tại vì thi ca là phần đất tinh thần tốt nhất cho chúng ta nuôi dưỡng những mơ mộng trước cuộc sống thực tế ngày càng khốc liệt, lạnh lùng, tàn nhẫn như hiện nay.

Con người, ngoài nhu cầu vật chất, còn có nhu cầu tinh thần. Chính nhu cầu tinh thần kia cho chúng ta sự khác biệt, rõ ràng, dứt khoát nhất giữa chúng ta và loài vật.

* Cuối cùng, một thi sĩ giàu có về thơ tình, một người sống trong kho tàng tình cảm đầy phong phú - có thể nói gì về tình yêu trong cuộc đời?

- Tình yêu nói chung (không giới hạn trong tình yêu nam nữ), với tôi là một thứ tôn giáo. Thứ tôn giáo mà mỗi chúng ta là giáo chủ của tôn giáo đó. Kẻ giàu có nhất trong nhân loại, theo tôi, không phải là người nhiều tiền của nhất; mà là người có nhiều tình yêu nhất, dành cho đồng loại, thiên nhiên, thú vật.

Bởi vì ngay cả khi bạn giàu có như Bill Gates thì bạn cũng chẳng thể mua chuộc, hối lộ thần chết, để khỏi chết. Và khi chết, bạn cũng chẳng thể mang theo tiền bạc bạn có. Tất cả mọi thứ thuộc về vật chất, bạn đều buộc phải bỏ lại.

Cái bạn bỏ lại tốt đẹp, được mọi người nhớ, nhắc chính là tình yêu mà bạn đã có, đã cho mọi người khi còn sống. Nói khác đi, đó là thứ tiền tệ hay tài - sản - tinh - thần mà ngay thần chết cũng không thể tước, đoạt được của bạn.

* Xin cảm ơn ông.

Du Tử Lê sinh năm 1942 tại Hà Nam. Ông là tác giả của 70 tập thơ, văn xuôi. Ông học Đại học Văn khoa Sài Gòn, tu nghiệp báo chí tại Indianapolis, Indiana (1969). Giải thưởng Văn chương toàn quốc tại Sài Gòn năm 1973 (tập Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972).

Thập niên 1980-1990, thơ ông xuất hiện trên Los Angeles Times và New York Times. Thơ ông được dịch trong tuyển tập Understanding Vietnam (liên Đại học Berkeley, UCLA, London ấn hành; là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại châu Âu).

Ông là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20 có thơ dịch trong tuyển tập World Poetry - An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time (W.W. Norton New York, 1998). Ông từng thuyết trình về sáng tạo thơ ca tại một số đại học ở Mỹ, Pháp, Đức và Úc. Ông hiện cư ngụ tại Garden Grove, Nam California (Mỹ).

YBOOK.vn


    Hiện tại chưa có thảo luận nào về vấn đề này.
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
  • CÁC TIN BÀI KHÁC
  • Lộ diện thêm một truyện dài 'độn thơ' của Nguyễn Nhật Ánh

    Lộ diện thêm một truyện dài 'độn thơ' của Nguyễn Nhật Ánh (08/11/2018)

    Văn Bảy | THETHAOVANHOA.VN

    Sáng 7/11 tại NXB Trẻ (TP.HCM) đã ra mắt tác phẩm Cảm ơn người lớn của Nguyễn Nhật Ánh, và sẽ phát hành 150.000 bản vào ngày 17/11 tới đây. Điểm đặc biệt nhất của truyện dài này là khía cạnh "độn thơ", với hơn 10 đoạn như vậy.