GIỚI THIỆU SÁCH

  • Tuổi trẻ dấn thân Nhiều tác giả Phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn những năm kháng chiến chống Mỹ là một phong trào đấu tranh yêu nước, lớn mạnh, trải rộng khắp các trường trung đại học, lôi cuốn nhiều thành phần nhân dân từ lao động đến trí thức, tôn giáo và các đảng phái. Trong bối cảnh đó, sinh viên Đại học Văn Khoa Sài Gòn đã đóng góp nhiều hoạt động sôi nổi, sâu sắc dù phải trải qua bao mất mát, hy sinh, qua bao cảnh tù đày, tra tấn khắc nghiệt... viết nên trang sử đẹp của trường mà Đại học Tổng hợp, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã và đang tiếp bước. Trong những sinh viên yêu nước đấu tranh đó, anh Lê Quang Lộc, nguyên chủ tịch Ban chấp hành sinh viên Văn khoa niên khóa 1967-1968 là một điển hình, với tình yêu nước nồng nàn, tính kiên định, phẩm chất trong sáng nhẹ nhàng, luôn sống chan hòa cùng đồng đội, tỉnh táo với kẻ thù, dám xả thân vì nghĩa lớn, luôn hoàn thành tốt mọi công tác cách mạng được giao. Anh cũng đã có một mối quan tình rất đẹp với người đồng chí cùng học và tham gia cách mạng tại Văn Khoa: chị Huỳnh Quan Thư – phó chủ tịch ngoại vụ Ban chấp hành sinh viên Văn Khoa. Tiếc thay, anh Lê Quang Lộc đã sớm hy sinh khi ánh bình minh hòa bình vừa hé rạng vào tối ngày 14, sáng ngày 15 tháng 4 năm 1975 trên đường về giải phóng Sài Gòn... Quyển Tuổi trẻ dấn thân viết về người chủ tịch sinh viên Văn Khoa trong giai đoạn lịch sử bi hùng với nhiều hoạt động tích cực. Hình ảnh anh dũng cảm đứng đầu liên danh của sinh viên tiên tiến bộ tranh cử quyền lãnh đạo sinh viên, bản lĩnh đối đầu với các tổ chức phản động đội lốt sinh viên đã để lại ấn tượng không phai của sinh viên Văn Khoa trong khí thế đấu tranh sục sôi, đầy nhiệt huyết. Sách được in lần hai trong không khí sôi nổi kỷ niệm 60 năm trường Đại học Văn Khoa (1957-2017) với nhiều bài viết cảm động của các tác giả thân quen trong phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn.
    ...
  • Đà Lạt năm xưa Nguyễn Hữu Tranh Nhìn từ phương diện lịch sử quy hoạch các đô thị Việt Nam, thì Đà Lạt là một hiện tượng đô thị đặc biệt. Đó là một đô thị mang hình mẫu châu Âu trong lòng Việt Nam. Điều này thể hiện qua thiết kế hệ thống giao thông, hình thái kiến trúc, phân khu chức năng, triết lý bảo tồn cảnh trí tự nhiên và cuối cùng là lối sống cư dân... Đến nay, vẫn còn nhiều khoảng trống để xây dựng một chân dung hoàn chỉnh của Đà Lạt. Cuốn sách Đà Lạt năm xưa của Nguyễn Hữu Tranh, một người Đà Lạt viết về thành phố của mình, bằng sự biên khảo tỉ mỉ, cẩn trọng, đã kết nối các tài liệu hơn một thế kỷ qua để như một nhà xây dựng, tạo nên một khuôn hình tương đối rõ nét về giai đoạn hình thành và phát triển của Đà Lạt từ cuối TK 19 và nửa đầu TK 20. Sự gọn gàng, mạch lạc của cấu trúc cuốn sách trước hết là nhờ sự chọn lựa các tài liệu hấp dẫn, từ dạng hồi ký của các nhà khoa học, chính khách Pháp như Gabrielle M. Vassal, Étienne Tardif hay bác sĩ Alexandre Yersin..., đến các bài vở trên các tờ báo Pháp thời Đông Dương đề cập đến các vấn đề đầu tư xây dựng Đà Lạt và nhất là các bản đồ, công trình dân tộc học, đồ án quy hoạch thành phố... Cuốn sách được thực hiện từ đầu thập niên 1990, khi bóng hình Đà Lạt cũ còn tương đối đậm nét và bối cảnh lưu trữ cũng như truy cập dữ liệu đòi hỏi nhiều nỗ lực và kỹ năng xử lý tài liệu, qua hai thập niên đã chứng tỏ giá trị của nó. Những nỗ lực này của tác giả, một nhà nông học, đã khiến cho cuốn sách được giới nghiên cứu Đà Lạt tìm đọc, tham khảo như một cuốn cần thiết trong mọi danh mục tài liệu tham khảo. Sự hiểu biết chuyên môn về thực vật của tác giả cũng khiến cho cuốn sách có hàm lượng thông tin tin cậy, cũng như hiểu được không gian cảnh sắc trước khi người Pháp thiết lập đô thị theo hình mẫu phương Tây. Việc chỉ ra rằng nơi đây cũng từng có một nền tảng phong tục riêng rất ý nghĩa trong việc duy trì sự phát triển bền vững của Đà Lạt, nhất là với người đọc thế kỷ 21. Người giới thiệu bản thảo, nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên đã nhận định: "Những dữ liệu về môi trường từ cuốn sách này cũng là một nguồn khả tín giúp độc giả có thể so sánh với hiện tại khi điều kiện xã hội kéo theo triết lý quy hoạch thay đổi, Đà Lạt đang đứng trước mối lo đánh mất 'mã gien' của mình." Trên hết, cuốn sách chứa đựng tình yêu của một cư dân đối với thành phố Đà Lạt xinh đẹp.
    ...
  • Truyện cổ Xtiêng - Phiên bản... Phan Xuân Viện (chủ biên), Nguyễn Thị... Truyện cổ Xtiêng được tuyển chọn từ trên 500 bản kê thô sơ sau khi đã được chỉnh lý, biên soạn và biên tập từ hai đợt khảo sát điền dã ở 6 huyện của tỉnh Bình Phước, nơi tập trung nhiều người Xtiêng sinh sống. Ngoài 200 truyện đặc sắc riêng của mình, người Xtiêng còn có những truyện mang nét giao thoa ảnh hưởng do vay mượn, trong quá khứ xa và gần, của các tộc người Ê Đê, Mơ Nông, Khơ Me, Việt... như các truyện Rùa và Khỉ, Hai chị em Ji Băch Ji Bay, Chuyện trạng Achơi, Người vợ khôn ngoan... Về nguồn gốc, mỗi truyện kể được sưu tầm và tuyển chọn để khảo sát đều có ghi ở cuối văn bản lai lịch của người kể chuyện nhằm tiện cho việc tra cứu xuất xứ của tác phẩm. Theo tiêu chí thể loại, số lượng, các truyện được phân thành 5 loại: Thần thoại; Truyền thuyết; Truyện cổ tích; Truyện cười; Truyện ngụ ngôn. Người Xtiêng thường kể về nguồn gốc ra đời dân tộc mình, về sự tích các vị thần, về những lễ hội, kiêng kỵ và sinh hoạt thường ngày, về tình yêu nam nữ. Những già làng và các cụ bà người Xtiêng là những người còn nhớ và thuộc nhiều vốn văn học quý giá này... Truyện cổ Xtiêng là một tác phẩm có giá trị với giới nghiên cứu liên quan.
    ...
  • Sim và Âm vang cố quận Vũ Đức Sao Biển Sim và Âm vang cố quận là quà tặng dành cho các em học sinh và thư viện nhà trường toàn huyện Duy Xuyên, Quảng Nam. Quê hương của tác giả Vũ Đức Sao Biển, và thi sĩ Bùi Giáng. Như chính tựa đề sách gồm 2 phần: Sim là những bài bút ký được chọn lọc từ 300 bài trên báo Thanh Niên tuần san ra vào thứ Tư hàng tuần và Âm vang cố quận là tác phẩm biên khảo mới nhất viết về Bùi Giáng – nhà thơ tài hoa của quê hương Duy Xuyên. Một số chương trong Âm vang cố quận đã được giới thiệu trên hai tờ nhật báo Thanh Niên và Quảng Nam.
    ...
  • Xuất khẩu lao động của Việt... Trần Thị Ái Đức, Trần Thị Kim... Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông là kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Trần Thị Ái Đức và thạc sĩ Trần Thị Kim Hiền về vấn đề xuất khẩu lao động (XKLĐ) của Việt Nam sang thị trường Trung Đông. Thị trường xem việc nhập khẩu lao động nước ngoài là chìa khóa cho hình thức toàn cầu hóa và khu vực hóa, xem đây là một trong những phương thức tái cơ cấu nền kinh tế, giúp cân đối cán cân thương mại trong nền kinh tế xuất khẩu dầu mỏ chiếm tỷ trọng lớn. Song song với việc tìm hiểu thị trường lao động Trung Đông, nghiên cứu cũng từ đó xác định nhu cầu của thị trường này, đánh giá đúng thực trạng XKLĐ của Việt Nam sang thị trường trong thời gian qua. Đồng thời xây dựng quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong thời gian tới, góp phần phát triển XKLĐ của nước ta. MỤC LỤC Lời giới thiệu Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu lao động và đặc điểm thị trường lao động Trung Đông Chương II: Thực trạng xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Trung Đông và những vấn đề đặt ra Chương III: Quan điểm và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Trung Đông Tài liệu tham khảo
    ...
  • Chuyện tình bên một dòng sông Nguyễn Mộng Hùng Chuyện tình bên một dòng sông là tập truyện ký pha trộn cảm xúc, tư liệu và kỷ niệm của tác giả, Nguyễn Mộng Hùng về nhà văn, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi. Bằng lối văn chân thực, chân thành, giản dị, tác giả kể lại cho chúng ta con người Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi trong những chặng đời mà anh từng nhiều năm gắn bó. Đó là một chiến sĩ quân đội dũng cảm, thông minh, kỷ luật, luôn luôn xử lý hài hòa giữa việc riêng và chung trong những ngày gian khổ, một con người hết lòng vì lý tưởng cách mạng, một con người hiếu thảo, rất mực yêu thương gia đình, mẹ cha, một người anh giàu nghĩa tình đồng đội, đồng chí. Trong sách, Nguyễn Mộng Hùng nhấn mạnh đến một tình yêu thiết tha, say đắm, thơ mộng, trong trẻo, lãng mạn, cao thượng, kết tinh từ hai tâm hồn đồng điệu của Tấn – Bá (tức Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi và Bình Trang) trong buổi đầu đời. Tình yêu ấy nảy sinh trong chiến đấu, gắn bó và trưởng thành trong chiến đấu, hòa quyện với những khúc tình ca lãng mạng, nhưng cũng là mối tình đầy bi kịch bị chi phối bởi chiến tranh. Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi sinh ra trong khúc ngoặt của lịch sử, tình yêu của anh có lẽ cũng là tiêu biểu cho thời cuộc lúc đó, bị chiến tranh chi phối, có yêu thương, thơ mộng nhưng đầy gian khổ, trắc trở, khổ đau, chia ly, tan vỡ... Anh ngã xuống vào đợt 2 cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Dù 40 tuổi đã hy sinh, nhưng Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi, vẫn được xem là một nhà văn lớn, với những tác phẩm thật tài hoa và sâu sắc, được nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật... Lược trích Lời giới thiệu của Nhà thơ, nhà phê bình Lê Quang Trang MỤC LỤC Lời giới thiệu Chuyện tình bên một dòng sông Trên đất Chùa Tháp Ngọc Tấn trở về Nam Lời bạt Ơi Tha La Tiểu đoàn 302
    ...
  • Bảng tra bút danh, nghệ danh... Lê Trung Hoa, Nguyễn Thanh... Trong cuộc sống cũng như trong công tác, đôi khi chúng ta cần biết các bút danh của một nhà nghiên cứu, tên thật của một nhà thơ, năm sinh hoặc năm mất của một nhạc sĩ, các lĩnh vực hoạt động của một người mà mình ái mộ... Không ngoài mục đích trên, tiếp nối công việc của hai tác giả Nhật Thịnh và Nguyễn Thị Khuê Giung trong cuốn Sơ thảo tự điển biệt hiệu Việt Nam có từ đầu những năm 1975, nhóm tác giả Lê Trung Hoa - Nguyễn Thanh Lợi trong vòng 5 năm đã sưu tập, bổ sung, mở rộng phạm vi, đính chính các chi tiết sai lạc trở thành tập sách Bảng tra bút danh, nghệ danh Việt Nam này. Nội dung bảng tra gồm 3 phần: Cách đặt bút danh, nghệ danh của người Việt. Từ họ tên thật tra ra bút danh, nghệ danh. Từ bút danh, nghệ danh tra ra họ tên thật. Trong các lĩnh vực: Ảo thuật, Báo chí, Ca nhạc Chính trị học, Dân tộc học, Dịch thuật Địa lý, Điện ảnh, Điêu khắc Giáo dục học, Hán Nôm, Hội họa Khảo cổ học, Kiến trúc, Kinh tế học Luật học, Múa, Mỹ học Ngâm thơ, Ngôn ngữ học, Nhiếp ảnh Phụ nữ học, Sân khấu, Sử học Tôn giáo, Triết học, Văn hóa học Văn học, Xã hội học Trên dưới 10.000 bút danh, nghệ danh, Bảng tra bút danh, nghệ danh Việt Nam là một nỗ lực đáng khâm phục của hai tác giả.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 03 cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện về tỉnh Gia Định vào thời điểm năm 1902. Những thông tin trong sách cũng vô cùng quý giá, có thể giúp các nhà nghiên cứu, những người quan tâm về lịch sử tìm hiểu về Nam kỳ đầu thế kỷ XX.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 06 là công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và chi tiết về mọi mặt của vùng đất Châu Đốc xưa để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại vùng đất Tây Nam bộ có nhiều tiềm năng kinh tế.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 07 là công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và chi tiết về mọi mặt của vùng đất Bến Tre xưa để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại vùng đất Tây Nam bộ có nhiều tiềm năng kinh tế.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 12 cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện về tỉnh Long Xuyên vào thời điểm năm 1905. Những thông tin trong sách cũng vô cùng quý giá, có thể giúp các nhà nghiên cứu, những người quan tâm về lịch sử tìm hiểu về Nam kỳ đầu thế kỷ XX.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 08, là công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và chi tiết về mọi mặt của vùng đất Sa Đéc xưa (nay là tỉnh Đồng Tháp) vào thời điểm năm 1903 để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại vùng đất Tây Nam bộ có nhiều tiềm năng kinh tế.
    ...
  • Địa lý học: Tự nhiên, Kinh... Hội Nghiên cứu Đông Dương Đầu thế kỷ XX, Hội nghiên cứu Đông Dương cho ra đời bộ sách Địa lý học: tự nhiên, kinh tế và lịch sử Nam kỳ về các tỉnh Nam kỳ. Bộ sách được viết bằng tiếng Pháp, mỗi tập theo một kết cấu chung thống nhất gồm 4 phần Địa lý hình thể Địa lý kinh tế Địa lý lịch sử và chính trị Thống kê và hành chánh Bộ sách thể hiện quan điểm và ý kiến của người Pháp về đất nước, con người Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ sách được dịch giả Nguyễn Nghị và Nguyễn Thanh Long chuyển ngữ. Tập 14 cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện về tỉnh Vĩnh Long vào thời điểm năm 1911. Những thông tin trong sách cũng vô cùng quý giá, có thể giúp các nhà nghiên cứu, những người quan tâm về lịch sử tìm hiểu về Nam kỳ đầu thế kỷ XX.
    ...
  • Những điệp viên may mắn Nguyễn Văn Tàu Tác giả kể lại nhiều mẩu chuyện về những chiến sĩ tình báo dũng cảm, thông minh, những người dân Sài Gòn không sợ hiểm nguy mà còn tích cực ủng hộ cách mạng, qua đó góp phần giúp độc giả trẻ hình dung được tính chất ác liệt, lâu dài của cuộc chiến tranh chống xâm lược mà các bậc cha anh đã trải qua.
    ...
  • Cõi người - Chân dung Trần... Trần Chiến Viết về một nhân vật lịch sử không xa xưa, thậm chí dồi dào tư liệu nhưng không dễ bởi độ phức tạp của bối cảnh đòi hỏi phải giải mã được. Cõi người đã tiếp cận con người nhà cách mạng, nhà sử học Trần Huy Liệu ở một góc độ "người" trong các khung tham chiếu thời đại, qua đó gợi lại tiến trình biến đổi của xã hội Việt Nam từ cận đại sang hiện đại. Trần Huy Liệu là một con người "đa hệ". Về mặt văn hoá, bắt đầu từ Nho giáo, ông chuyển dần sang tân học. Về "nhân thân xã hội", trước sau ông là người dân tộc trong căn cốt, dù là trong phong trào Thanh niên, Quốc Dân đảng hay là người Cộng sản. Từ làm báo, trải qua hoạt động tuyên truyền rồi trở thành người viết sử, đời ông gắn với những trào lưu chính yếu nhất của nước Việt trong thế kỷ 20: Nho tàn, Tây học, chủ nghĩa Tam dân, hệ tư tưởng Cộng sản... Qua những tài liệu đã xuất bản và sổ tay ghi chép của chính nhà sử học Trần Huy Liệu, tác giả đã dựng nên một chân dung xác đáng nhất về một con người vừa là nhân chứng, vừa là người góp phần kiến tạo nên những biến cố quan trọng của đất nước. Vừa như sống trong những biến động sôi sục của thời đại, vừa thong dong ở một độ lùi của lịch sử, câu chuyện lôi cuốn người đọc ở một cách nhìn toàn diện mà vẫn rất chi tiết. Bản in lần này của Nhà xuất bản Trẻ được bổ sung thêm tư liệu, như những bức thư của học giả Đào Duy Anh, trao đổi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và giáo sư Phan Huy Lê về câu chuyện Lê Văn Tám... Những điều này làm nên thêm sức hấp dẫn cho tác phẩm này.
    ...
  • Người anh hùng làng Dóng Cao Huy Đỉnh Cao Huy Đỉnh không chỉ là chuyên gia lớn của nước ta về văn học Ấn Độ mà còn là nhà nghiên cứu văn học dân gian tài ba, đã có những đóng góp cho ngành khoa học này của Việt Nam, trong đó nổi bật là công trình "Người anh hùng làng Dóng". Công trình này cùng với "Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam", Cao Huy Đỉnh đã đặt một cái mốc có tính phương pháp luận cho việc nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam: tìm hiểu tác phẩm văn học dân gian trong không gian sống động thực tế của nó. Cuốn sách Người anh hùng làng Dóng là mẫu mực khi nghiên cứu về những bối cảnh và văn bản của truyền thuyết Thánh Dóng. Bộ ba tác phẩm của Cao Huy Đỉnh đã nhận được giải thưởng Hồ Chí Minh của nhà nước. Những tác phẩm sưu tầm, nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu của Cao Huy Đỉnh là những công trình khoa học cơ bản, có giá trị như những tham chiếu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nhưng cũng hấp dẫn đại chúng ở văn phong giản dị, nhân bản.
    ...
  • Văn Khoa - Một thời sống đẹp Nhiều tác giả Thế kỷ 20 đã chứng kiến một giai đoạn hào hùng của dân tộc Việt Nam. Mỗi thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong giai đoạn đó đã có một thời để nhớ. Thế hệ sinh viên học sinh Sài Gòn những năm 60, 70 cũng như thế, trong đó sinh viên Văn Khoa là một phần đặc sắc để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong ký ức người dân Sài Gòn. Thật vậy, Đại học Văn Khoa đã có một thời đẹp cả bối cảnh lẫn con người, đẹp từ ý thức của một cộng đồng lẫn phong cách của phong trào yêu nước. Bối cảnh của quá trình phát triển phong trào tranh đấu của sinh viên Văn Khoa hòa chung trong phong trào sinh viên học sinh và đồng bào các giới, bối cảnh những ngày giảng đường đại học hóa thành diễn đàn hội thảo "Sinh viên trước hiện tình đất nước" rồi rầm rập kéo nhau xuống đường... Và những con người Văn Khoa muôn màu muôn vẻ, những hình dáng dịu dàng, tha thướt, siêng năng bám lớp, bám trường để lấy "cours" giúp bạn bè, bên cạnh những bạn trẻ dấn thân sôi nổi tụm năm tụm ba bàn quốc sự, hay những anh những chị lặng lẽ ngồi suy tư ở một góc thư viện rồi bỗng nhiên ghi ghi chép chép... Chúng ta không quên được các bạn phụ trách Hội quán Sinh Viên thanh thoát, cần mẫn chăm lo cho bạn bè. Chúng ta nhớ làm sao Hội Nữ Sinh Viên Văn Khoa đầy kiêu hãnh, nhưng cũng nhất mực dịu dàng với thầy với bạn, lại vừa sắc bén sẵn sàng đương đầu với đàn áp bất công. Và những nhà văn, nhà thơ sinh viên, những nhạc sĩ, họa sĩ sinh viên dấn thân vào thực tiễn đấu tranh vì trái tim yêu nước thúc giục, đã tạo thành một trường phái văn học nghệ thuật đặc sắc, đầy khí phách hào hùng với lực lượng ngày càng đông đúc và hầu hết đã trở thành những chiến sĩ cách mạng dũng cảm hoạt động công khai giữa Sài Gòn... [...] chúng ta đã có đại học Văn Khoa một thời để nhớ, một thời không thể nào quên. Thế hệ sinh viên Văn Khoa thuở ấy đã có một thời sống đẹp, đầy tình người, vô vàn cảm kích như tựa đề của quyển sách sống động mà chúng ta đang có trong tay hôm nay. Với tình cảm yêu thương và khâm phục tôi xin trân trọng giới thiệu quyển sách Văn Khoa - Một thời sống đẹp cùng bạn đọc, nhất là tuổi trẻ hôm nay. PHẠM CHÁNH TRỰCNguyên Bí thư Đoàn ủy các trường Đại học Khu Sài Gòn Gia Định MỤC LỤCLời cảm ơnLời giới thiệuLời mở đầuPhần 1: Hồi ức Văn Khoa – kí ức còn lưu (1962-1975) Chương 1: Phong trào Chương 2: Trường lớp, thầy cô Chương 3: Bạn bè, đồng đội Phần 2: Những trang viết cũ Chương 1: Bối cảnh tình hình – Những vấn đề đặt ra Chương 2: Ước mơ Chương 3: Ươm mầm đấu tranh Chương 4: Chung xây hướng mới Chương 5: Tình cảm cách mạng Phần 3: Tư liệu
    ...
  • Vài nét về tiểu thuyết các... Nguyễn Thị Việt Nga Văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 là một bộ phận "đặc biệt" của văn học dân tộc. Đặc biệt bởi lẽ đây là nền văn học đặt dưới sự kiểm soát gắt gao của đế quốc Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn. Theo bước chân xâm lược của Mỹ, văn hoá phương Tây, đặc biệt là văn hoá Mỹ tràn vào miền Nam. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hoá nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng. Hoàn cảnh lịch sử xã hội và những tiền đề văn hoá có nhiều đặc biệt cộng với chính sách nô dịch văn hoá của Mỹ - nguỵ đã khiến cho văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 mang bộ mặt riêng, tách khỏi quỹ đạo chung của văn học kháng chiến Việt Nam. Đó là bộ phận văn học đa dạng, phức tạp, cả về nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật. Chính bởi sự đa dạng, phức tạp đó mà tình hình nghiên cứu văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 cũng không hề đơn giản. Tìm hiểu đời sống văn học miền Nam trên các phương diện từ lý luận, phê bình văn học, đến thực tế sáng tác đã có nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học trước và sau 1975, cả trong Nam ngoài Bắc và người Việt ở hải ngoại đề cập đến. Những công trình nghiên cứu hoặc các bài báo về vấn đề này, với quy mô khác nhau, xuất phát từ những quan điểm không đồng nhất cùng với tính phức tạp vốn có của đối tượng nghiên cứu, bên cạnh việc đem đến cho người đọc nhiều cách tiếp cận thì cũng có những nhận xét, đánh giá rất khác nhau, trong đó có cả những quan điểm trái chiều. Tình hình trên đặt ra vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 trên mọi phương diện, nhất là ở mảng sáng tác. Tiểu thuyết là thể loại văn học chiếm ưu thế trong văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975, và cho đến nay nó vẫn là thể loại có sức phát triển mạnh mẽ trong văn học Việt Nam nói riêng, văn học thế giới nói chung. Khái niệm tiểu thuyết với những đặc trưng thể loại cũng thay đổi theo thời đại. Tìm hiểu đặc trưng của tiểu thuyết đô thị miền Nam là tìm hiểu một bộ phận quan trọng trong tổng thể nền văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, đồng thời tìm hiểu một chặng đường phát triển của tiểu thuyết Việt Nam. Trong tình hình chung về nghiên cứu, phê bình văn học đô thị miền Nam từ 1954 1975 đã có không ít bài viết, công trình đề cập đến sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đối với tác giả và sáng tác văn học cụ thể. Tuy vậy, để đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống sự ảnh hướng của chủ nghĩa hiện sinh đối với tiểu thuyết đô thị miền Nam từ 1954 đến 1975 ở vấn đề quan niệm, biểu hiện về thân phận con người còn là vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết. MỤC LỤCPhần 1: Bức tranh chung về đời sống xã hội và văn hóa ở đô thị miền Nam những năm 1954 - 1975 Ảnh hưởng tới phê bình văn học Ảnh hưởng tới sáng tác văn học Phần 2: Tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 - 1975, từ ảnh hưởng đậm nét của chủ nghĩa hiện sinh Thân phận con người Con người cô độc trong một thế giới phi lý Sự cải hóa tuyệt vọng Phần 3: Đến sự đổi mới thi pháp thể loại Cảm nhận trực giác, ngôn ngữ của dòng ý thức Phương pháp miêu tả hiện tượng luận Chất triết lý & giọng điệu đa thanh Thư mục kham khảo Tác phẩm tiểu thuyết Tài liệu tham khảo
    ...
  • Góc nhìn văn hóa

Mối lo tư liệu gốc  


"Bia Đường Lâm", niên đại ghi trên bia là năm Quang Thái thứ 3 (1390), nhưng đã được giám định là khắc vào đầu thế kỷ XIX, bản dịch hiện đang trưng bày tại Bảo Lịch sử Quốc Gia.

Trần Trọng Dương | TIASANG.COM.VN

Có một việc vô cùng nguy hiểm đang diễn ra bấy lâu nay trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam, đó là có một bộ phận không nhỏ các nghiên cứu viên không phân biệt được tư liệu gốc (original text) với tư liệu thứ cấp và tài liệu tham khảo; hay nói cách khác, họ không thấy cần thiết phải tiếp cận hoặc sử dụng các tư liệu gốc cho nghiên cứu của mình.

Tại một hội thảo khoa học của các nhà nghiên cứu trẻ ở Viện Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), anh Quang Hà (công tác tại Trung tâm Hoàng Thành) đề cập việc nghiên cứu lịch sử thời Lý Trần rất khó khăn bởi tư liệu hiện nay còn lại quá ít. Ngay lập tức một vị tiến sĩ tại Viện phản biện rằng: nói như vậy là không xác đáng, bởi tính cho đến thời điểm này đã có không biết bao nhiêu sách vở, công trình nghiên cứu về thời đại Lý Trần được xuất bản. Nghe lời giải thích ấy, chúng tôi giật mình hiểu ra rằng có một việc vô cùng nguy hiểm đang diễn ra bấy lâu nay trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam. Đó là có một bộ phận không nhỏ các nghiên cứu viên không phân biệt được tư liệu gốc (original text) với tư liệu thứ cấp và tài liệu tham khảo; hay nói cách khác, họ không thấy cần thiết phải tiếp cận hoặc sử dụng các tư liệu gốc cho nghiên cứu của mình. Có thể kiểm chứng thực trạng đó qua không ít bài viết được gọi là nghiên cứu đăng trên các tạp chí nhưng hóa ra chỉ là sản phẩm của việc người này trích dẫn lại người nọ. Đọc những bài viết ấy, người ta không thấy tư liệu mới, kết luận mới, nhận thức mới, mà chỉ thấy những lời văn mới được biên tập lại từ những bài văn cũ.

Tư liệu gốc là loại tư liệu được biên soạn, và định bản ngay trong chính thời đại đó, do chính chủ thể văn hóa, chủ thể lịch sử đó tạo tác. Ví dụ, những tư liệu gốc về thời đại Lý Trần phải là những tư liệu được định bản ngay trong chính thời đại Lý Trần. Và như chúng ta biết, không một cuốn sách nào được chép, in vào thời Lý Trần còn lại cho đến ngày nay! Bởi trải qua gần ngàn năm lịch sử, trải qua bao cuộc chiến tranh, thiên tai, nhân họa, các tư liệu văn hiến đó bị thất tán hết cả. Thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn từng thốt lên, sách vở xưa có mười mà nay không còn đến một.

Dĩ nhiên, sách vở (thường được định bản bằng giấy) không phải là loại hình văn bản duy nhất trong hệ thống tư liệu để nghiên cứu về xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, các tư liệu văn hiến còn được định bản trên các vật liệu khác như đá, gỗ, đồng, vàng, sứ, đất nung..., những vật liệu có tính bền vững cao hơn, khả dĩ vượt qua thử thách của thời tiết khắc nghiệt trong quãng ngàn năm. Kiểm lại các tư liệu gốc như vậy của thời đại Lý Trần còn lại cho đến nay phần lớn là các văn bia (quãng ba bốn chục văn bia) được khắc lên đá, thường được gọi là "những trang sử đá" của dân tộc. Văn bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (được Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật soạn, và được một vị Thượng thư khác viết chữ và khắc vào đời vua Lý Nhân Tông) ở chùa Long Đọi, Hà Nam, là một tư liệu như vậy. Được soạn và khắc với niên đại xác tín tuyệt đối, là vào năm 1121, đây là sử liệu gốc duy nhất còn lại do chính vua Lý Nhân Tông cho soạn. Văn bia này cũng là một tuyệt phẩm nghệ thuật ở các lĩnh vực: văn chương, điêu khắc cổ và thư pháp cổ điển.

Loại tư liệu gốc thứ hai là loại tư liệu có khả năng được biên soạn vào thời đại đó, nhưng hiện chỉ còn văn bản được chép - in lại vào thời đại sau. Điển hình cho loại này là các sách Khóa hư lục của vua Trần Thái Tông, Lĩnh Nam trích quái, Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh... Tức là những sách được sáng tác vào đời Trần, nhưng hiện còn lại phần lớn là văn bản từ thế kỷ XVII trở về sau. Những văn bản đó không ai dám chắc đã mang đúng những thông tin vào thời Trần, mà có khả năng trong mấy trăm năm lưu truyền, sao đi chép lại, văn bản đã được bổ sung/thêm bớt nhiều lần, khiến cho chúng ta không thể nào biết được diện mạo của văn bản gốc1.

Đến như văn bản Đại Việt sử ký toàn thư - một văn bản quan trọng hàng đầu trong nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam, ghi chép những sự kiện từ sơ sử đến nhà Lê, cũng chỉ là những tập hợp qua nhiều đời và bản in hiện còn được khắc in vào cuối thế kỷ XVII. Từ những ngổn ngang tư liệu như thế, người ta đã cho tiến hành những bản dịch sang tiếng Việt hiện đại. Nhiều người chỉ biết trích dẫn lại những bản dịch của những tư liệu chưa được kiểm định. Không mấy ai quan tâm và biết tư liệu gốc vốn được ghi chép như thế nào? Ghi chép ấy có gì chưa chuẩn xác? Bản dịch của những tư liệu ấy khả tín đến đâu? Các tạp chí chuyên ngành cũng không có quy định nào cụ thể liên quan đến việc trích dẫn tư liệu gốc và tài liệu tham khảo. Trong khi đó, ở nước ngoài những quy định như vậy là bắt buộc và là điều đương nhiên ai cũng biết2.

Nhiều người không thể tưởng tượng có những chuyện tày trời trong kho thư tịch cổ. Này là Gia huấn ca của đại danh hào Nguyễn Trãi, Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Cưu Đài thi tập của Nguyễn Húc, "tấm bia Đường Lâm" để xác định quê quán của hai vua Phùng Hưng - Ngô Quyền,... lại đều là đồ giả (ngụy thư)3. Tư liệu giả cũng có muôn hình vạn trạng khác nhau, tùy từng động cơ và mục đích. Ví như, vì yêu quý danh nhân, thương xót cổ thư mà người ta sáng tác lại Gia huấn ca, hay Binh thư yếu lược. Có khi chỉ vì tiền, mà người ta chép sách của người này gán vào người khác, như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim biến thành Việt sử diễn âm của Hoàng Cao Khải. Có khi vì muốn kéo dài lịch sử, mà người ta cho làm giả niên đại của một cuốn sách, như thần phả Hùng Vương - chủ yếu là các văn bản của thế kỷ XVIII- XIX, nhưng đã được "khai khống" niên đại lên đến tận đời Lê Hoàn (thế kỷ X) hay Lê Thánh Tông (thế kỷ XV).

Từ tác phong khoa học, những mối hại dần dần chuyển nhịp sang cả đời sống đương đại. Người ta sẵn sàng dựng lên một nhân vật lịch sử nào đó với những mục đích riêng tây khác nhau. Một vị thành hoàng làng vô danh bỗng chốc trở thành thủy tổ của một dòng họ nổi tiếng, mà hậu sinh giờ đây là một doanh nghiệp giàu có. Một tín ngưỡng ở tầm địa phương vốn vay mượn từ truyện truyền kỳ Trung Hoa được "nhân vật hóa - lịch sử hóa" để trở thành một triều đại có thật trong lịch sử và trở thành niềm tự hào của hơn tám mươi triệu con người. Những mảnh ghép của nhiều nhân vật lịch sử khác nhau được nhào nặn để từ đó một danh tướng - anh hùng lịch sử xuất hiện. Người ta dùng cả những con ấn giả để buôn bán niềm tin tâm linh.

Từ năm 1945, khi chữ Hán, chữ Nôm chính thức được/bị thay thế bằng hệ thống chữ cái Latin (chữ Quốc ngữ)4. Những tư liệu gốc đã bị phá hủy không biết bao nhiêu mà kể, bởi quan niệm một thời: chữ viết thể hiện ý thức hệ phong kiến cổ hủ và lạc hậu. Cho đến nay, tình trạng ấy chưa phải đã hết. Một số cơ quan chuyên ngành mặc dù đã cố gắng, song việc sưu tầm, xử lý và vi tính hóa tư liệu ấy đến nay vẫn còn đang dang dở. Khá nhiều tư liệu vẫn còn đang nằm trong dân gian, và ngày ngày bị đe dọa biến mất. Một số lớn các tư liệu khác nằm ở nước ngoài (Mỹ, Pháp, Anh, Hà Lan, Italy, Nhật Bản,...) vẫn chưa có dự án nào đưa về nước để khai thác. Còn quá nhiều việc phải làm cho nghiên cứu cơ bản. Cụ thể ra sao chúng tôi xin được đề cập đến trong một dịp khác.

-------

1 Ví dụ như cuốn Đại Việt sử ký toàn thư, theo nghiên cứu văn bản học gần đây của một nhà Hán học Nga thì có những căn cứ rõ nét cho thấy cuốn sách này được sử quan nhà Mạc biên tập, thêm bớt, cắn xét với những mục đích khác nhau. [A. L. Fedolin. Những cứ liệu mới về việc chép sử Việt Nam. Lương Tự Cường dịch. NXB Văn hóa Thông tin. Hà Nội. 2011].

2 Gần đây tôi có một người bạn học ở nước ngoài về. Anh rất quyết liệt trong việc đi học chữ Hán cổ, bởi lẽ, một số bài nghiên cứu của anh không được đăng do các cứ liệu, trích dẫn đều lấy từ các bản dịch. Mà bản dịch thì không phải là tư liệu gốc.

3 Xin xem các bài Hoàng Văn Lâu. Ai viết Gia huấn ca. Tạp chí Hán Nôm. số 01- 1984.

Ngô Đức Thọ. Khảo cứu về Binh thư yếu lược. Tạp chí Hán Nôm, số 01- 1989.

Phạm Văn Ánh. Về Nguyễn Húc và bộ Cưu đài thi tập hiện còn. Nghiên cứu Văn học, số 02 - 2006.

Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương. Đường Lâm là Đường Lâm nào? (Tìm về quê hương Đại Sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu). Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. Huế. Số 02- 2011.

4 Vũ Thế Khôi. Ai bức tử chữ Hán Nôm? http://vanhoanghean.vn

YBOOK.vn


    Hiện tại chưa có thảo luận nào về vấn đề này.
Vui lòng đăng nhập để bình luận.
  • CÁC TIN BÀI KHÁC
  • Sách 2020: Xuất bản sẽ ra sao khi độc giả đang dần có gu riêng?

    Sách 2020: Xuất bản sẽ ra sao khi độc giả đang dần có gu riêng? (03/01/2020)

    Mai Thụy - Lam Điền | TUOITRE.VN

    Các nhà làm sách nhắm đến những mảng đề tài ăn khách nào trong năm 2020 này? Nhu cầu của người đọc và sự phân hóa mạnh mẽ ở nhiều dòng sách trong năm qua phác họa phần nào bức tranh của thị trường sách sắp tới.

  • Chết chịu: Phần thưởng của sống là chết

    Chết chịu: Phần thưởng của sống là chết (19/09/2019)

    Zét Nguyễn | TUOITRE.VN

     Nhắc đến Louis-Ferdinand Céline, một trong những nhà văn được coi là vĩ đại của Pháp, thì không thể không nhắc đến những nghịch lý gay gắt đi kèm.